VIỆT NAM
Trong Tầm Nhìn Thế Kỷ XXI

 

Thế giới kể từ sau khi tương tranh lưỡng cực tư bản-cộng sản chấm dứt đến nay đã có nhiều biến động mạnh mẽ để mở đường cho nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới. Những biến động này vẫn còn mang nặng hình thái chiến tranh và bạo lực, nhưng nguyên nhân và động lực đã thay đổi. Bối cảnh hiện nay và viễn ảnh tương lai của nhân loại và thế giới trong thế kỷ mới vừa mở ra một chân trời phát triển tươi sáng, vừa đặt ra những thách thức to lớn cho dân tộc chúng ta. Liệu dân tộc chúng ta có kịp vươn mình lớn dậy như là một quốc gia vừa hiện đại, vừa có bản sắc, trước khi bị tràn ngập bởi cơn sóng trào thời đại, trong một nhân loại đang toàn cầu hóa, và trước một thế giới biến đổi từng ngày. Bài học quá khứ và bế tắc hiện tại dường như chỉ minh chứng rằng dân tộc ta vẫn chưa được chuẩn bị để đối phó với thách thức đó, vẫn chưa tìm được sinh lộ cho mình trong thời đại mới. Cho tới trước khi Pháp thuộc dân tộc ta mới chỉ hoàn thành được cuộc Nam tiến, thống nhất được đất nước về mặt địa lư. Các vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị, kể cả việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, vẫn chưa được giải quyết một cách căn bản và bền vững. Quá trình tiếp cận Tây phương hơn một trăm năm nay đem lại cho dân tộc ta những chất liệu tiến bộ mới và các cơ hội thăng tiến chưa từng có trong lịch sử, nhưng chúng ta vẫn chưa vận dụng được những chất liệu và cơ hội đó một cách tích cực và có hiệu quả. Ngược lại cơn sóng trào Tây phương, với cả tư bản lẫn cộng sản và những luồng văn hóa, tư tưởng khác nhau, tranh chấp và mâu thuẫn ngay trên đất Việt, đã làm đảo lộn sâu sắc toàn bộ mọi mặt đời sống của xã hội Việt. Người dân Việt bị đun đẩy trong cơn sóng trào đó suốt hơn một thế kỷ nay, với những hy sinh mất mát vô cùng to lớn, để cuối cùng hôm nay vẫn chỉ thấy mình hoàn toàn bị động. Hàng chục triệu người Việt đã chết, hoặc còn sống trong thương tật, ở cả Bắc lẫn Nam, chỉ vì một ước mơ duy nhất và đơn giản là đem lại độc lập và tự do cho tổ quốc, no ấm và hạnh phúc cho bản thân mình và cho mọi người Việt.

Ước mơ đó đến hôm nay vẫn chưa thành hiện thực. Bước vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, toàn dân Việt vẫn chưa thật sự làm chủ được vận mệnh đất nước, vẫn chưa thoát ra khỏi được cảnh nghèo nàn lạc hậu, vẫn chưa được hưởng một đời sống tự do, hanh phúc, xứng đáng với những cố gắng và hy sinh to lớn của họ. Họ đã bị phản bội bởi chính những người đã lãnh đạo họ và đã được họ suy tôn. Chính quyền Cộng Hòa trước 1975 không có được thế chủ động, phụ thuộc nặng nề vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nên dễ dàng bị xụp đổ khi Hoa kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu và khu vực. Ngược lại, chế độ Cộng Sản lại không thể là giải pháp mở ra con đường phát triển cho Việt Nam khi nó đã bị từ bỏ bởi chính những người khởi xướng ra nó, khi mà thế giới và nhân loại đã phát triển hoàn toàn khác lạ với nhãn quan và dự kiến của Mác. Đất nước ta cần một giải pháp mới, vừa khắc phục được tình trạng bị động của quá khứ, vừa khơi thông được dòng sống đang bế tắc hiện tại, để mở đường cho toàn dân phát huy được tiềm năng và dân tộc hội nhập được vào trào lưu tiến hóa chung của nhân loại.

Một giải pháp như thế có được, trước hết không phải chỉ từ một cá nhân tài giỏi, hay một đoàn thể chính trị lớn mạnh, dù một xã hội phát triển và tự do rất cần những nhân tố đó. Giải pháp như thế trước hết phải đến từ một khối quần chúng thức tỉnh, đứng dậy dành lại quyền làm chủ đời sống riêng của mình và quyền quyết định vận mệnh chung của quốc gia. Giải pháp đó phải đến từ một hội tụ dân tộc, và sau cùng, một hội tụ dân tộc với tinh hoa nhân loại. Nhân dân Việt có ước vọng và khả năng thực hiện được một hội tụ như thếá. Mọi người Việt hiện nay, trong một thế giới và khu vực đang biến chuyển dồn dập, đều chỉ mong cầu một đời sống an vui thanh bình, được ăn no mặc ấm, được đi lại học hành tương đối đầy đủ và thoải mái. Mọi người Việt hiện nay, dù khác biệt thế nào, ở trong nước hay ở hải ngoại, bình dân hay trí thức, Bắc hay Nam, cộng sản hay không cộng sản, nếu bóc bỏ đi tất cả những khác biệt như thế, đều gặp nhau ở một mong cầu chung là được hưởng đời sống tự do hạnh phúc như mọi con người bình thường khác trên trái đất này. Người dân Việt vốn không có hận thù, không bị ám ảnh bởi quá khứ. Họ cũng không thiếu tấm lòng và tiềm năng. Hãy xem người nông dân, chỉ ba bốn năm sau khi được “cởi trói” khỏi cơ chế nông nghiệp quốc doanh (hợp tác xã) họ đã sản xuất đủ gạo không những để ăn mà còn để xuất khẩu. Hay như những thiếu niên Viêt Nam, khi có cơ hội sinh sống và du học ở nước ngoài, đã thành công dễ dàng cả trong việc học lẫn trong việc làm. Người dân Việt chỉ thiếu môi trường và cơ hội để phát huy tấm lòng và khả năng vẫn còn tiềm ẩn của họ. Một giải pháp đặt quyền sống của người dân lên trên hết, bảo đảm được vai trò chủ động cho người dân, hội tụ được mọi thành phần dân tộc, và hội nhập được dân tộc vào thời đại, sẽ mở ra cho toàn dân Việt môi trường và cơ hội đó. Nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện nay của mọi người Việt quan tâm tới tiền đồ dân tộc chính là đề ra và thực hiện được giải pháp này.

Điểm tiên quyết trong giải pháp này là nước ta cần được thay đổi toàn diện và nhanh chóng. Người dân Việt cần được “cởi trói” trong mọi lãnh vực, mọi mặt đời sống thường ngày, từ tinh thần (văn học, tư tưởng, nghiên cứu giáo dục, tôn giáo), tới vật chất (làm ăn sinh sống, di chuyển, cư trú), từ đời sống cá nhân tới sinh hoạt xã hội, từ nông thôn tới thành thị, từ quốc nội ra quốc tế. Và thay đổi với một tốc độ không giới hạn, ngang tầm với sức sống tràn đầy sinh lực tươi trẻ của dân tộc và với tiến độ điện tử của thời đại. Chúng ta, những người Việt quan tâm tới tiền đồ dân tộc ở đầu thế kỷ XXI này, tin rằng mức độ và tốc độ thay đổi đất nước như thế trước hết là một điều bắt buộc, một đạo lư dân tộc, để bù đắp lại những đau thương mất mát to lớn của hàng triệu người dân Việt cả hai miền Nam Bắc trong nửa thế kỷ qua. Và sau nữa, tốc độ và mức độ này có thể thực hiện được. Vì nước Việt hiện nay rất trẻ. Một quốc gia trẻ là một quốc gia đầy sức sống, có tương lai và luôn hướng về tương lai. Tiềm năng tương lai này, trong mọi lãnh vực, cả trong nước lẫn hải ngoại, đang hiện diện trong mọi người Việt, nhất là giới trẻ. Tiềm năng này cần nhanh chóng được giải thoát khỏi mọi hình thức trói buộc.

Chúng ta cho rằng định kiến tư tưởng và cơ chế độc đoán là hai trói buộc chính hiện nay. Để có thể vượt qua được những trói buộc này cần có một tinh thần bao dung, chấp nhận mọi khác biệt, tạo được môi trường cởi mở sẵn sàng đối thoại chân tình giữa những người Việt yêu nước thuộc mọi thành phần dân tộc và mọi quan điểm chính trị tư tưởng khác nhau. Và khởi điểm đồng thời cũng là động cơ của tíến trình đối thoại bao dung đó là đặt Việt Nam lên trên hết, luôn có cái nhìn Việt Nam trên mọi cái nhìn riêng tư. Chính trị chung của tất cả những người Việt quan tâm, dù thuộc đoàn thể nào, quan điểm chính trị nào, phải là chính trị Việt Nam, chỉ vì Tổ Quốc Việt Nam. Vì một nuớc Việt Nam tiến bộ trong dòng tiến hóa chung của nhân loại. Vì một Việt Nam của mọi người Việt và cho mọi người Việt, không phân biệt quá khứ, địa phương, tôn giáo, chính kiến. Đây phải là định hướng tư tưởng chung thống nhất mọi cá nhân và tổ chức, vượt trên mọi khác biệt và chia rẽ hiện nay.

Chúng ta cho rằng một định hướng chính trị như thế là có thể thực hiện được. Nền chính trị đó xuất phát từ niềm tin rằng dân tộc chúng ta phải và có thể phục hưng và phát triển với tốc độ nhẩy vọt nếu vận dụng được những tiến bộ nhanh chóng mọi mặt của thế giới và môi trường quốc tế ngày càng thuận lợi. Đồng thời môi trường tiến bộ toàn cầu của khu vực và thế giới trên các mặt kinh tế, văn hóa và cả chính trị, lại có thể giúp dân tộc ta có điều kiện để nhanh chóng khắc phục những nhược điểm vẫn còn rất to lớn, phát huy năng lực vẫn còn tiềm ẩn, cũng như tiếp thu thêm những kiến thức và khả năng mới. Đây là Tầm Nhìn Việt Nam trong bối cảnh mới của thế giới và nhân loại. Nếu mọi cá nhân, mọi tổ chức và mọi thành phần dân tộc, dù trước đây có khác biệt và mâu thuẫn như thế nào, nay cùng chia sẻ một niềm tin và tầm nhìn như thế thì chúng ta chắc chắn sẽ vượt qua được những ngăn cách, di biệt, tránh được mâu thuẫn, chia rẽ, đồng thời phát huy được thế mạnh đặc thù, để cùng nhau mở ra một chân trời phát triển không giới hạn cho toàn thể dân tộc, trong đó có phần đóng góp và thụ hưởng cũng luôn rộng mở cho mọi người Việt.

Cụ thể hơn, chúng ta tin rằng chia sẻ tầm nhìn thời đại sẽ tạo được môi trường và điều kiện cần thiết để mở đường cho một tập hợp dân tộc mới, toàn dân và toàn diện, cả trong nước lẫn hải ngoại, cả kinh tế, văn hóa lẫn chính trị – một điều kiện cần thiết để lực lượng dân chủ Việt Nam có đủ sức mạnh chủ động thúc đẩy tiến trình chuyển hoá đất nước từ độc tài sang dân chủ, từ lạc hậu sang phát triển. Một tập hợp dân tộc như thế sẽ thiết lập được một trận tuyến mới –trận tuyến quốc dân Việt đối kháng với thiểu số lãnh đạo bảo thủ độc tài. Tập hợp và trận tuyến dân tộc này sẽ đủ sức đặt ban lãnh đạo cộng sản hiện nay vào chọn lựa cuối cùng: hoặc chấp nhận thực thi dân chủ, hoặc tan rã trong đột biến chính trị-xã hội.

Chia sẻ Tầm Nhìn Việt Nam thế kỷ XXI sẽ giúp cho cuộc vận động chính trị hiện nay của chúng ta có được tầm vóc quốc tế và thời đại. Đồng thời nó cũng thể hiện được tính chất triệt để và toàn diện của cuộc vận động hiện nay của những người dân chủ, quyết tâm khắc phục những sai lầm yếu kém của dân tộc, khơi dậy sức sống toàn diện và tiềm tàng của toàn dân. Mọi trở ngại cho công việc này cần được gỡ bỏ. Đồng thời mọi đóng góp tích cực và có hiệu quả vào công việc đó đều phải được trân trọng và có chỗ đứng thích đáng, dù những đóng góp đó có thể đến từ những tư tưởng và tập hợp chính trị khác biệt nhau.

Để trao đổi về một tầm nhìn mới cho Việt Nam, trước hết chúng ta hãy thử phân tích xem thế giới trong thế kỷ XXI mà Việt Nam đang phải tiến vào có một viễn ảnh như thế nào? Một cách tổng quát thì ngay ở những năm đầu tiên này thế giới đang chuyển từ tranh dành quyền thống trị thế giới sang hợp tác quốc tế để giải quyết một cách bền vững những vấn đề chung của toàn thể nhân loại, nhất là những xung đột quốc tế. Bản thân xung đột quốc tế đang chuyển từ xung đột kinh tế chính trị, sang xung đột văn hóa, nếp sống, niềm tin tâm linh, tôn giáo. Thế giới sẽ chỉ có hòa bình bền vững khi tham vọng Âu-Mỹ hóa mọi bình diện đời sống nhân loại được giải trừ và thay thế bằng một tầm nhìn nhân loại hòa hợp Á-Âu Mỹ đồng thời với những cố gắng tạo dựng một cộng đồng nhân loại đa văn hóa của mọi dân tộc và cho mọi dân tộc.

Việt Nam đang bước vào một thời đại mới với một bối cảnh thế giới và nhân loại đã hoàn toàn đổi khác và đang mở ra những viễn cảnh mới. Nếu thế kỷ XIX là thế kỷ phát triển của Âu Châu ra toàn thế giới và thế kỷ XX là thế kỷ tranh dành quyền thống trị thế giới dẫn đến đối kháng lưỡng cực tư bản-cộng sản, thì hiện nay là thời kỳ quan hệ quốc tế phức tạp, là giai đoạn chuyển tiếp từ quốc tế hóa giả hiệu, cực quyền (quốc tế do Tây Phương hay Mỹ tạo ra), sang quốc tế hóa chân chính, tức là một quốc tế thật sự của mọi dân tộc. Quan hệ quốc tế trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay mang tính chất phức tạp và đa dạng với quan hệ Bắc-Bắc (giữa các nước giầu mạnh với nhau), quan hệ Nam-Nam (giữa những nước nghèo yếu với nhau), và quan hệ Bắc-Nam (giầu-nghèo).

Trong bối cảnh phức tạp đó chúng tôi cho rằng thế giới và nhân loại từ năm 2000 trở đi khoảng vài thập niên sẽ diễn biến trong tiến trình chuyển tiếp từ quốc tế hóa cực quyền sang quốc tế hóa chân chính, theo ba giai đoạn: (1) giải quyết những vấn đề còn xung đột Á-Âu Mỹ; (2) tái hòa hợp Á-Âu Mỹ; và (3) phát triển một cộng đồng nhân loại toàn cầu, một quốc tế chân chính –một thế giới của mọi dân tộc. Trong giai đoạn đầu vấn đề Hồi giáo cực đoan và Trung Quốc sẽ là các vấn đềõ nổi bật nhất. Trong giai đoạn ba, Phi Châu sẽ trở thành vấn đề trọng yếu nhất của thế giới.

Về mặt chính trị, tại các nước phát triển cao, nền dân chủ sẽ tiến thêm một bước sâu và rộng hơn nữa, bớt đi tính chất đảng tranh, mang nhiều tính dân bản hơn, với sự tham gia trực tiếp hơn của mọi thành phần dân chúng vào mọi mặt sinh hoạt xã hội. Ba thành tố của nền dân chủ hiện nay (chính trị gia, doanh gia, và trí thức-chuyên gia) sẽ được tăng cường thêm bởi ba thành tố mới (những nhà hoạt động xã hội (NGO), giới truyền thông, và cá nhân các công dân quan tâm (qua các cuộc thăm dò dư luận). Tại các nước mới phát triển, xu thế dân chủ pháp trị là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược được. Trên bình diện toàn cầu, thế giới sẽ chỉ có hoà bình khi giải quyết được một cách công bằng và bền vững các xung đột quốc tế nghiêm trọng như xung đột Hồi gíáo cực đoan với Âu-Mỹ. Riêng Á Châu-Thái Binh Dương, hòa bình ổn định lâu dài chỉ có được khi ra đời một khu vưc Trung Hoa mới, phát triển bền vững trong dân chủ và tiến bộ, trong đó quyền dân tộc tự quyết và các dân quyền căn bản phải được tôn trọng. Đồng thời Liên Hiệp Quốc được tiếp tục cải tổ trong tiến trình tạo dựng nền dân chủ toàn cầu, để thật sự đại diện cho một cộng đồng quốc tế nhân bản toàn cầu, đa văn hóa và đa chủng tộc đang hình thành. Trong chiều hướng đó, các tổ chức khu vực, trong đó đáng kể là ASEAN, sẽ phát triển nhanh và ngày càng ổn định, góp phần đẩy nhanh tiến trình hình thành cộng đồng quốc tế chân chính.

Về mặt kinh tế thương mại, xu thế chung sẽ phát triển theo chiều hướng tư bản xã hôi hóa và toàn cầu hóa về mặt thị trường (vốn, kỹ thuật, và tiêu thụ) đồng thời cá thể hóa về mặt sản xuất và hưởng dụng. Trách nhiệm xã hội của các hoạt động kinh tế thương mại ngày càng được chú trọng hơn, đang mở đường cho sự ra đời một mô hình kinh tế mới, kinh tế thị trường xã hội (social market economy). Đồng thời nền kinh tế tri thức và nền thương mại toàn cầu không biên giới sẽ phát triển mạnh, thúc đẩy quá trình hình thành cộng đồng nhân loại toàn cầu, nền dân chủ toàn cầu và nền văn hóa toàn cầu. Tự do giao thương liên quốc gia, toàn khu vực và toàn cầu, tác động trực tiếp tới sự phát triển tại mỗi quốc gia, đồng thời thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa, tạo điều kiện và môi trường hình thành cộng đồng nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc. Asia-Pacific sẽ trở thành trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của thế giới trong nửa đầu của thế kỷ XXI, sau khi một cộng đồng Trung Hoa mới ra đời. ASEAN sẽ trở thành khu vực phát triển năng động thứ ba trên thế giới sau Bắc Mỹ (NAFTA) và EU. Một cộng đồng Trung Hoa mới ra đời, dân chủ và phát triển, sẽ đóng góp cụ thể và tích cực nhất vào việc tạo dựng kỷ nguyên Á Châu-TBD.

Về mặt văn hóa, có thể nói thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của văn hóa. Thế giới thu hẹp dần cả về không gian và thời gian, tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu đa văn hóa, đa chủng tộc. Từ đó hình thành dần một ý thức và một nền văn hóa cộng đồng nhân loại. Đồng thời sinh hoạt văn hóa quốc tế càng phát triển càng thôi thúc sự hình thành những chuẩn mực giá trị đạo đức và tinh thần nhân loại mang tính toàn cầu, tính quốc tế, tính nhân loại -- một tiêu chuẩn quốc tế chung cho các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau làm chuẩn mực cho một đời sống nhân loại đang hình thành khắp nơi trên hành tinh. Trong bối cảnh đó quan hệ giữa dân tộc và nhân loại, giữa quốc gia và quốc tế, sẽ là một quan hệ mở và mỗi dân tộc sẽ có môi trường và điều kiện phát triển ngày càng dễ hơn và nhanh hơn. Đồng thời xu thế toàn cầu hóa là một thách thức nghiêm trọng đối với mỗi dân tộc: bản sắc văn hóa dân tộc phải tồn tại và phát huy như thế nào trong một nhân loại ngày càng hoà hợp đa văn hóa hơn?

Riêng đối với Á Châu, bối cảnh phát triển trực tiếp của Việt Nam, nếu thế kỷ XX là thế kỷ xung đột Á-Âu do hậu quả của thực dân hóa, của Âu Châu phát triển ra toàn thế giới, dẫn đến hậu quả Âu-Mỹ hóa Á châu, thì cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Á Châu phục hưng cả trên kinh tế, văn hóa và vị thế chính trị quốc tế. Trong xu thế nhân bản hóa và toàn cầu hóa, một Á Châu phục hưng như thế sẽ tạo điều kiện cho sự tái hòa hợp Á-Âu Mỹ trong tinh thần kết hợp khoa học kỹ thuật Tây phương với đạo học nhân văn Đông phương. Khoa học nhân bản hơn và đạo học thực tiễn hơn. Á-Âu bổ sung lẫn cho nhau để cùng đóng góp vào việc hình thành nền văn hóa cộng đồng nhân loại toàn cầu trong xu thế phát triển con người một cách toàn diện và quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa tự nhiên và con người, giữa cá nhân với xã hội, giữa dân tộc với nhân loại, giữa quốc gia với khu vực và với quốc tế.

Trong chiều hướng đó, tiến bộ của kỹ thuật cao đóng vai trò quan trọng. Internet và giao lộ thông tin điện tử quốc tế giúp tạo ra và tăng cường tính di động toàn cầu. Cộng với tính di động xã hội trong mỗi quốc gia, và sự tự do thương mại toàn cầu, sự di động toàn cầu sẽ tạo thêm những yếu tố đồng nhất trong đời sống nhân loại, vượt qua những khác biệt ngôn ngữ, phong tục và lối sống. Đời sống nhân loại sẽ vừa đồng nhất hơn, lại vừa đa dạng, phong phú hơn. Đồng nhất về kiến thức, về mô hình phát triển kinh tế, tổ chức và quản lý xã hội, về phương pháp làm việc và giải quyết mâu thuẫn, xung đột . Phong phú đa dạng về văn học nghệ thuật, phong tục tập quán, ngôn ngữ. Một xã hội nhân đạo toàn cầu có nhiều điều kiện hơn để ra đời trong xu hướng: tuy dân tộc thì nhiều nhưng nhân loại vẫn là một. Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc được trân quí như tài sản văn hóa nhân loại, như trăm bông hoa trong vườn hoa nhân loại.

Trong một thế giới toàn nhân loại như thế, tôn giáo tiếp tục đóng vai trò quan trọng, nhưng các tôn giáo có truyềøn thống tổ chức chặt chẽ sẽ gặp nhiều khó khăn về cơ cấu và nghi thức, đòi hỏi một đường hướng mới và nhiều cải tổ cơ cấu để tiếp tục đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người. Con người tiếp tục tiến trình mở rộng tầm nhìn tâm linh đa tín ngưỡng, tạo môi trường thuận lợi cho các quan điểm ôn hòa và hòa hợp tôn giáo. Đồng thời những hiểu biết mới về tự nhiên, về sự sống và về con người sẽ giúp phổ thông hóa và tăng cường thêm khả năng luyện tập và chủ động sinh tâm lư của con người đối với bản thân, xã hội và sinh thái. Nhờ đó con người có thêm những điều kiện mới để mở rộng và nâng cao sinh tâm thức ra đại tự nhiên và sự sống. Tôn giáo trong thế kỷ XXI sẽ phải giảm bớt đi nhiều giáo điều, lễ nghi hình thức và mang nhiều nội dung và sinh hoạt phong phú hơn và gần gũi hơn với đời sống thường ngày của con người.

Việt Nam phải và có thể phát triển như thế nào trong môt nhân loại và thế giới mới như thế? Tôi tin rằng Việt Nam trong thế kỷ XXI có nhiều triển vọng hội nhập dễ dàng và nhanh chóng vào xu thế tiến bộ chung của thế giới nếu gỡ bỏ được các đường lối và cơ chế độc đoán trói buộc, hạn chế sức phát triển của mọi tầng lớp dân chúng. Người dân Việt dù thuộc thành phần nào, nhất là thành phần bình dân, vốn giản dị, cởi mở, không thành kiến và có tinh thần thực tiễn. Trải qua cả ngàn năm tồn tại trước các cơn sóng trào văn hoá chính trị tràn đến từ mọi phía, dân tộc ta đã hun đúc được một khả năng phản ứng đặc thù, bén nhậy, linh hoạt, và thích nghi nhanh chóng. Đó là khả năng thâu hóa đãi lọc lấy mọi điều tốt lành cho cuộc sống con người dù những điều đó đến từ đâu, kể cả từ những người muốn xâm lược và chiếm đóng họ. Để từ đó thích nghi, tổng hợp và sáng tạo để sinh tồn và tiến hoá không ngừng. Đặïc tính và khả năng này rất thích hợp với thời đại toàn cầu đa văn hóa, đa chủng tộc. Nếu thoát khỏi thể chế độc đoán bảo thủ đóng cõi hiện nay thì một nước Việt, với đặc tính và khả năng ấy, sẽ dễ dàng phát huy tiềm lực để phát triển nhanh chóng. Nhất là trong bối cảnh khu vực và thế giới ngày càng thuận lợi, sau khi những vấn đề gai góc hiện nay được giải quyết.

Vấn đề quan trọng nhất đối với dân tộc ta hiện nay và tương lai vẫn là vấn đề Trung Quốc. Cũng rất may là đây cũng là vấn đề chung của Á Châu và khu vực Đông Nam Á. Dù tiến trình thay đổi diễn ra như thế nào, chúng ta dự kiến một khu vực Trung Hoa mới sẽ ra đời trong hình thái của một liên hiệp bình đẳng cùng tồn tại giữa các dân tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng. Đây vừa là xu thế phát triển chung của những quốc gia lớn và đa chủng tộc trên thế giới, vừa là điều kiện để có được ổn định bền vững ở Châu Á. ASEAN cũng sẽ tiến đến một hình thức hợp tác chặt chẽ hơn như Liên Hiệp Âu Châu. Liên hiệp ASEAN phát triển, cùng với một liên hiệp Trung Hoa mới, sẽ góp phần tích cực vào việc tạo ra kỷ nguyên Á Châu-Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI. Những biến chuyển khách quan có tính xu thế này, trong khu vực Đông Nam Á và Á Châu-Thái Bình Dương, sẽ tác động tích cực vào tiến trình tự do hóa Việt Nam, và tác động tiêu cực vào ý đồ duy trì độc quyền chính trị của ban lãnh đạo cộng sản hiện nay tại Việt Nam.

Trong bối cảnh khu vực đang và sẽ diễn biến như thế, Việt Nam phải và có thể nhanh chóng tiến vào thời kỳ dân chủ. Một Việt Nam dân chủ, trong vị thế trung gian giữa ASEAN và khu vực Trung Hoa mới, sẽ có môi trường và điều kiện phát triển thuận lợi. Việt Nam sẽ đóng vai trò ngày càng tích cực và năng động hơn sau thời kỳ cộng sản, nhờ vị trí địa lư chính trị và tính đa dạng về văn hóa và tôn giáo, với đủ các tôn giáo lớn và những luồng văn hóa tư tưởng khác nhau (Khổng, Lão, Phật, Thiên Chúa; Pháp, Mỹ, Nhật, Nga…). Những thay đổi ở Trung quốc trong những năm tới đây sẽ đẩy nhanh tiến trình thay đổi ở Việt Nam. Mô hình Đông Dương tồn tại 100 năm nay kể từ thời Pháp thuộc đang và sẽ vĩnh viễn chấm dứt để hòa nhập vào trong ASEAN và có thể giữa ASEAN với vùng Hoa Nam. Nhưng Việt Nam hậu cộng sản sẽ phải giải quyết một cách khó khăn các vấn đề tồn đọng từ các chính sách sai lầm của các chính phủ Việt Nam, cả quốc gia và Cộng sản, với các nước láng giềng, nhất là vấn đề biên giới với Lào, Miên và vùng Hoa Nam. Có thể phải cần đến một giải pháp ASEAN và quốc tế cho các vấn đề biên giới, đặc biệt là vấn đề chủ quyền vùng biển Đông.

Vai trò của Mỹ sẽ ngày càng quan trọng và có tính quyết định trong việc giải quyết các vấn đề của Á Châu-Thái Bình Dương, đặc biệt là vấn đề Trung Quốc. Mỹ sẽ chuyển dần sự chú ư cả về mặt kinh tế thương mại, văn hóa lẫn chính trị và quân sự từ Âu Châu sang Á Châu. Mỹ sẽ ngày càng vào sâu hơn tại ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng để chuẩn bị cho tình hình mới. Thương Ước Mỹ-Việt chỉ là bước đầu, có tính quyết định, không đảo ngược được, trong tiến trình này. Câu hỏi lớn hiện nay là: Liệu Mỹ có kiểm soát đươc tình hình ở Trung quốc và Việt Nam theo đúng lộ trình "diễn biến hòa bình" không, hay biến động sẽ nổ ra trước khi lộ trình này đạt kết quả. Và do đó, liệu Mỹ có chuẩn bị thích đáng và kịp thời để ứng phó với những biến động đó hay không. Những gì đã xẩy ra ở miền Nam VN trước đây, ở Indonesia, vùng Balkan và Trung Đông gần đây không cho ta chủ quan về khả năng này của Mỹ. Do đó những người dân chủ VN cần có mục tiêu, kế hoạch và lộ trình riêng, chủ động chuẩn bị đối phó với mọi tình huống có thể xẩy ra không để bị động bởi những sơ hở hay thay đổi trong sách lược của Mỹ.

Về chiều hướng phát triển Việt Nam, sau một thời kỳ bất ổn định ngắn sau sự sụp đổ của chế độ cộng sản, từ thập niên thứ hai của thế kỷ, đất nước ta có nhiều triển vọng chuyển vào thời kỳ hưng thịnh với chế độ dân chủ, kinh tế thị trường và sinh hoạt văn hóa học thuật tự do, trong bối cảnh hội nhập vào một ASEAN đầy năng động và một môi trường quốc tế hòa hợp Á-Âu. Mọi cố gắng cần được tập trung vào việc xây dựng một xã hội dân sự dân bản trong đó toàn bộ sinh hoạt xã hội nằm trong tay người dân, chính quyền chỉ điều hợp, và bảo đảm công bằng và cơ hội đồng đều cho mọi thành phần dân chúng và mọi miền đất nước. Tiêu ngữ thể hiện đường lối phát triển là: chính trị dân chủ pháp trị, kinh tế thị trường xã hội và văn hóa tự do trong một xã hội dân sự dân bản cởi mở. Trong thời kỳ chuyển tiếp cần tạo điều kiện cho mọi người dân được phát huy sáng tạo, thăng tiến toàn diện cả tinh thần lẫn vật chất, chấm dứt mọi hình thức áp chế và phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Nguyên tắc dân chủ pháp trị --mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai được đứng trên và đứng ngoài pháp luật-- phải được triệt để tuân thủ.

Về chính trị, thực hiện cơ chế dân chủ pháp trị, toàn dân, và đa nguyên với bốn tính chất căn bản:

các hoạt động của công dân, đa diện và đa dạng, do chính người dân thực hiện, là nền tảng của xã hội (xã hội công dân);

địa phương tản quyền để phát huy đồng đều tiềm năng toàn diện của mọi vùng đất nước, mọi thành phần dân tộc, để cho toàn dân và toàn quốc được có cơ hội phát triển bền vững và công bằng;

trung ương tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp), chính quyền giữ đúng vai trò điều phối và điều tiết bằng chính sách và luật pháp để bảo đảm cho toàn dân và toàn quốc được phát triển bền vững và công bằng; và

quốc gia chính thức công nhận (trong Hiến Pháp) vai trò theo dõi và cảnh báo dư luận xã hội đối với các hoạt động công ích của các tổ chức của người dân độc lập với chính quyền, ngoài các đảng phái chính trị, như báo chí, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu, và các cơ quan thăm dò dư luận.

Về kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường xã hội, với 2 tính chất: tự do cạnh tranh và bảo vệ môi sinh xã hội và thiên nhiên. Hoạt động tư doanh là chính, chính quyền chỉ trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh nào tư nhân không làm hoặc chưa làm được nhưng cần thiết cho quốc phòng, hay dân sinh, như điện, nước…và sẽ giải tư ngay khi có thể được. Đồng thời bảo đảm trách nhiệm đối với xã hội và môi sinh của các hoạt động kinh doanh. Quốc gia phải tạo điều kiện phát triển hết tiềm năng và đặc thù kinh tế, văn hóa của mọi vùng trong nước, với chính sách vừa tôn trọng tự do cạnh tranh vừa bảo đảm quyền bình đẳng cơ hội cho toàn dân, cho mọi thành phần dân tộc và mọi giai tầng xã hội khác nhau. Đồng thời, có chính sách nâng đỡ và hỗ trợ các thành phần yếu kém trong xã hội, và các vùng kém phát triển (nông thôn, vùng núi). Tư doanh phải có trách nhiệm về những hậu quả hoạt động kinh doanh đối với người tiêu thụ, đối với môi trường xã hội và môi trường sinh thái. Mở rộng cửa giao lưu thương mại, kinh tế với ASEAN và thế giới để đẩy nhanh tiến trình phát triển đất nước. Nhưng cần duy trì được phát triển bền vững, bảo vệ sinh thái, bảo đảm công bằng xã hội, phát triển đồng đều mọi vùng đất nước, bảo đảm công ăn việc làm và tăng trưởng mức sống cho mọi thành phần dân chúng.

Về văn hóa, cần phát triển nền văn hóa giáo dục tự do, phẩm chất được nâng cao dần, và phổ quát trong mọi tầng lớp nhân dân. Điều cần làm là phát triển hai mạng lưới giao lưu xã hội là giao thông vận tảitruyền thông xã hội (bao gồm bưu điện, điện thoại, truyền thanh truyền hình, internet, xuất bản, sách báo) để mở rộng sự di động xã hội cả về vật thể lẫn tinh thần. Đồng thời nhanh chóng hòa nhập nước ta vào sự di động toàn cầu. Thanh niên Việt thế kỷ XXI cần một nền giáo dục tổng hợp, tổng hợp giữa đạo học nhân văn với khoa học kỹ thuật, giữa nhận thức và kiến thức tổng quát với khả năng và kỹ năng chuyên môn, giữa văn hóa dân tộc với văn hóa nhân loại toàn cầu. Toàn dân Việt cần được nâng cao dân trí trong một thời gian ngắn nhất. Điều này có thể thực hiện được bằng hệ thống giáo dục xã hội dành cho toàn dân, thực hiện trong xã hội và ngoài nhà trường qua tự học, không cần trường lớp. Quốc gia trực tiếp trách nhiệm việc đánh giá và công nhận kết quả của hệ thống này để bảo đảm chất lượng giáo dục và giá trị kinh tế xã hội, ngang với chất lượng và giá trị của hệ thống giáo dục nhà trường. Nền giáo dục xã hội này dành cho mọi lứa tuổi, đáp ứng mọi nhu cầu học tập của toàn dân, từ giáo dục phổ thông như trong nhà trường, tới huấn nghiệp sơ trung cấp, và các loại kiến thức phổ quát thường xuyên được cập nhật. Truyền thông điện tử, quốc nội và quốc tế, sẽ phát triển nhanh chóng và rộng khắp, nhờ kỹ thuật mới với giá ngày càng thấp hơn. Điều này, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và xã hội công dân, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hệ thống giáo dục xã hội, ngoài nhà trường, song song với hệ thống giáo dục nhà trường. Giáo dục là chìa khóa phát triển, nhất là khi trình độ dân trí nước ta còn rất thấp, cần nâng cao dân trí của toàn dân trong thời gian ngắn nhất. Hệ thống giáo dục xã hội ngoài nhà trường, dành cho toàn dân, là giải pháp tốùi ưu có tính khả thi cao, phải được coi trọng ngang với hệ thống giáo dục nhà trường.

Tóm lại trong thế kỷ XXI có ba nhân tố phát triển Việt Nam, ngoài môi trường quốc tế không thể thiếu. Đó là kinh tế thị trường, văn hóa giáo dục tự do và chính trị dân chủ pháp trị. Trong điều kiện có được tính di động xã hội và di động toàn cầu nhanh và rộng khắp, ba nhân tố này sẽ cùng tác động nhau, thúc đẩy nhau, tạo môi trường và các điều kiện tinh thần và vật chất cần thiết để nhanh chóng khắc phục những nhược điểm, phát huy những thế mạnh cả về vật thể lẫn tinh thần của người dân Việt. Nhờ đó sẽ vừa phát huy được nội lực dân tộc, vừa tận dụng trào lưu tiến bộ của thế giới để đưa nước ta vào thời kỳ phát triển nhẩy vọt, thu ngắn và thu hẹp cách biệt giữa nước ta và các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Với những tiến bộ của thế giới về giao thông vận tải, truyền thông điện tử và các kỹ thuật quản trị và tổ chức xã hội hiện đại, và trong xu thế toàn cầu hóa, trong bối cảnh đang hình thành một cộng đồng thế giới và khu vực không biên giới hay biên giới mở, những dự kiến về sự hình thành và vận hành của ba nhân tố phát triển trên đây ở Việt Nam có triển vọng trở thành hiện thực.

Tạo được môi trường và điều kiện để ba nhân tố phát triển này vận hành và phát huy tác dụng phải là mục tiêu chính của cuộc vận động chính trị hiện nay của mọi người Việt trong-ngoài nước quan tâm tới tiền đồ dân tộc trong thế kỷ XXI.

(11/2002)

Ghi Chú: Để thấy được khả năng thích ứng rất bén nhậy linh hoạt của quần chúng Việt chúng ta chỉ cần quan sát ngưòi dân Việt bình thường đã tự mình (một cách gần như hoàn toàn tự động tự phát không có hướng dẫn và lãnh đạo) tồn tại và tiến triển như thế nào dưới chế độ cộng sản hà khắc ở trong nước và trong môi trường quốc tế hoàn toàn mới lạ ở hải ngoại trong gần 30 năm qua.

Bài viết trên đây khai triển phần đầu của Đề Cương Vận Động Dân Chủ, một tài liệu được soạn thảo và phổ biến giới hạn từ tháng 10 năm 2000 trong giới hoạt động cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam.