ĐỀ CƯƠNG
VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ

 

PHẦN I
Tổng Cương Về

Tầm Nhìn Thế Kỷ XXI

 

Lời Mở Đầu:

Cuộc vận động chính trị hiện nay của chúng ta xuất phát từ hai nhận định sau đây: (1) nếu chúng ta không vượt qua được quá khứ, thay đổi được hiện trạng, thì chưa tạo được môi trường và cơ hội xây dựng một tương lai xán lạn cho dân tộc; và (2) cơ chế chính trị, kinh tế và văn hóa độc quyền cộng sản hiện nay là nguyên nhân tạo ra tình trạng chậm tiến của đất nước, và do đó cần phải được nhanh chóng gỡ bỏ.

Chúng tôi cho rằng nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện nay của mọi người Việt quan tâm tới tiền đồ dân tộc là đề ra và thực hiện được giải pháp hữu hiệu để gỡ bỏ được cơ chế chính trị-xã hội hiện nay và mở đường phát triển tương lai dân tộc. Giải pháp này phải bảo đảm dành lại được vai trò chủ động cho người dân, hội tụ được mọi thành phần dân tộc, và hội nhập được dân tộc vào thời đại mới. Tập tài liệu dưới đây được biên soạn để gợi ư cho tiến trình thực hiện nhiệm vụ này.

Chúng tôi cho rằng, để hoàn tất được nhiệm vụ chiến lược, cuộc vận động chính trị hiện nay của chúng ta cho một nước Việt Nam tự do và tiến bộ cần có được tầm vóc quốc tế và thời đại. Hơn thế nữa, nó còn cần có tính chất cách mạng dân tộc triệt để và toàn diện, quyết tâm khắc phục những sai lầm yếu kém của dân tộc, khơi dậy được sức sống tiềm tàng của toàn dân để từ đó xây dựng một nước Việt tự do, phồn vinh, công bằng và nhân bản. Mọi trở ngại cho những mục tiêu lớn này cần được gỡ bỏ. Đồng thời mọi đóng góp tích cực và có hiệu quả vào việc đạt mục tiêu lớn đó đều phải được trân trọng và có chỗ đứng thích đáng trong cuộc vận động hiện nay, dù những đóng góp đó có thể đến từ những tư tưởng và tập hợp chính trị khác biệt nhau.

Trong đường hướng đó, chúng tôi cho rằng cuộc vận động của chúng ta nhằm đạt ba mục tiêu lớn theo ba quan điểm hướng dẫn hành động như sau.

Ba Mục Tiêu Vận Động:

1. Người dân dành lại được quyền tự chủ và tự do định đoạt vận mệnh đất nước trên cả ba lãnh vực kinh tế, văn hóa và chính trị;

2. Chế độ dân chủ pháp trị được thiết lập một cách vững chắc tại Việt Nam;

3. Đất nước có được môi trường và các điều kiện cần thiết để phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ, hòa nhập vào dòng tiến hóa chung của nhân loại.

Ba Quan Điểm Hướng Dẫn Hành Động:

1. Dân tộc Việt phải phục hưng và phát triển tương xứng với tiềm năng và bề dầy lịch sử, trong dòng tiến hóa chung của nhân loại và thời đại;

2. Xã hội Việt phải là môi trường phát triển cho mọi người Việt thuộc mọi thành phần dân tộc, trong và ngoài nước, mọi địa phương, giai tầng xã hội và xu hướng tâm linh và tư tưởng khác nhau;

3. Công việc phục hưng dân tộc và xây dựng đất nước là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người Việt không phân biệt địa phương, tôn giáo và khuynh hướng chính trị tư tưởng.

Để đạt được những mục tiêu theo đường hướng trên, chúng ta cần đặt cuộc vận động chính trị hiện nay trong bối cảnh thời đại và thế giới, và phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta và của quần chúng Việt hiện nay.

A. Tầm Nhìn Thế Giới Và Nhân Loại:

1. Bối Cảnh Thế Giới Và Nhân Loại:

(a) Thế kỷ XIX là thế kỷ phát triển của Âu Châu ra toàn thế giới dẫn đến chế độ thuộc địa, tàn bạo và bóc lột. Khối cộng sản quốc tế phát triển nhờ dựa vào phong trào giải phóng thực dân và trở thành phản đề của tư bản. Đối kháng lưỡng cực tư bản-cộng sản từ sau đệ nhị thế chiến đưa đến nguy cơ thế chiến hạt nhân khiến cả hai khối đều phải thay đổi chiến lược dẫn đến sự tan vỡ của khối cộng sản quốc tế. Vào cuối thế kỷ XX thế giới chuyển từ lưỡng cực đối kháng sang đa cực hợp tác giữa các nước giầu (Bắc bán cầu) và các nước nghèo (Nam bán cầu).

(b) Vài xu thế nổi bật từ giữa thế kỷ XX tới nay:

(1) dân chủ hóa: từ 30% (sau thế chiến) tiến đến 60% (hiện nay) số các quốc gia có chế độ dân chủ;

(2) hình thành ba trung tâm kinh tế thế giới: Mỹ, Âu châu (EU) và Nhật;

(3) hình thành các tổ chức khu vực: EU, ASEAN, OAS…, SAARC;

(4) Mỹ tiến lên vị trí trung tâm quyền lực quốc tế có thế lực nhất.

(c) Chúng tôi cho rằng thế giới và nhân loại từ năm 2000 trở đi khoảng vài thập niên tới sẽ diễn biến trong tiến trình toàn cầu hóa theo ba giai đoạn: (1) tương quan còn nhiều xung khắc Á Âu-Mỹ; (2) tái hòa hợp Á Âu-Mỹ; và (3) phát triển một cộng đồng nhân loại toàn cầu (nhân bản hóa) (thế giới của mọi dân tộc). Trong giai đoạn đầu vấn đề Trung Quốc và vùng Á Châu-Thái Bình Dương sẽ nổi bật nhất. Trong giai đoạn ba, Phi châu sẽ trở thành vấn đề trọng yếu nhất của thế giới. Sau đây là những nhận định đại cương về chiều hướng biến chuyển của thế giới và nhân loại trong vài thập niên tới.

2. Chính Trị:

(a) Nhân loại cần một nền chính trị mới, một nền chính trị vì thường dân và do thường dân, chính trị dân bản, và trong một thể chế dân chủ mới, mà những nhà nghiên cứu gọi là dân chủ tham gia cũng còn được gọi là empowered democracy) so sánh với dân chủ đại diện (representative democracy). Chúng tôi cho rằng đây sẽ là một nền dân chủ dân bản. Ba thành tố của nền dân chủ hiện nay (chính trị gia, doanh gia, và trí thức chuyên gia) sẽ được tăng cường thêm ba thành tố mới (những nhà hoạt động xã hội, giới truyền thông, và cá nhân các công dân quan tâm). Chính trị dân bản và dân chủ tham gia đang được phát huy tại những nước phát triển. Tại các nước mới phát triển, xu thế dân chủ pháp trị là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược được. Đồng thời, những nước này cần có những chuẩn bị và điều chỉnh cơ cấu và chính sách cần thiết để chuyển tiếp nhanh sang nền chính trị và thể chế dân chủ mới, cùng với nền kinh tế thị trường và văn hóa tự do để vận dụng được sức mạnh kinh tế, khoa học kỹ thuật, tri thức của thế giới trong tiến trình phát triển nhanh đất nước. Điều này khả thi trong bối cảnh ra đời một cộng đồng nhân loại toàn cầu, và với những tiến bộ nhanh của mọi ngành khoa học và kỹ thuật. Quan hệ giữa những nước phát triển cao (điện tử và tri thức) với những nước phát triển thấp phải được chuyển từ quan hệ khai thác, bóc lột, sang hợp tác, cùng sống và giúp tiến.

(b) Thế giới sau Liên Xô có hai vấn đề nổi bật nhất phải giải quyết là Hồi giáo cực đoan và Trung Quốc. Vấn đề Hồi giáo cực đoan vừa có tính cách văn hóa, vừa có tính cách chính trị, nằm trong tiến trình tái hòa hợp Á-Âu Mỹ trong bối cảnh đang ra đời một cộng đồng nhân loại toàn cầu. Vấn đề Trung Quốc liên quan trực tiếp đến tình hình nước ta.

1/ Trung Quốc và Á Châu-TBD: Thế giới và Á Châu-TBD không thể ổn định với một Trung Quốc rộng lớn và trung ương tập quyền mạnh mẽ như hiện nay. Á châu chỉ thật sự ổn định và hòa bình với một khu vực Trung Hoa mới phát triển trong dân chủ và ổn định theo chiều hướng tạo cơ hội và điều kiên tiến bộ đồng đều và bình đẳng giữa các dân tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi (Tân Cương), Tạng, Chuang (Hoa Nam). Sự phát triển đầy năng động của các nước trong vùng Á Châu và ven Thái Bình Dương theo chiều hướng kinh tế thị trường và tự do dân chủ đang và sẽ tiếp tục tác động mạnh mẽ vào những nước cộng sản Á Châu và ngay tại Trung Quốc. Vấn đề khó khăn nhất trong thập niên tới là làm sao thực hiện được tiến trình ra đời một khu vực Trung Hoa mới mà không nổ ra chiến tranh và bạo loạn. Tình hình Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên và khu vực Nam Á liên hệ mật thiết với vấn đề Trung Quốc.

2/ Liên Hiệp Quốc: Liên Hiệp quốc hiên nay vẫn còn là một LHQ của Âu-Mỹ. Cải tổ LHQ tiếp tục là một vấn đề chính trị quốc tế quan trọng. Cải tổ cho phù hợp tình hình quốc tế mới, để LHQ ngày càng phản ảnh được toàn thể nhân loại, đồng thời đóng được vai trò gìn giữ hòa bình thế giới và bảo đảm phát triển công bằng cho mọi dân tộc. LHQ sẽ được tiếp tục cải tổ trong bối cảnh ra đời một cộng đồng quốc tế nhân bản toàn cầu, đa văn hóa và đa chủng tộc và trong bối cảnh một nền dân chủ toàn cầu đang hình thành.

3/ Quan hệ giữa các khu vực trên thế giới:

-- Thế kỷ XXI được các nhà tương lai học dự kiến sẽ là thế kỷ của Á Châu-TBD phục hưng và hội nhập toàn cầu, tạo thế quân bằng Á-Âu- Mỹ.

-- Hai thập niên đầu: tạo mô hình và cơ chế quan hệ giữa các tổ chức vùng ASEAN (AFTA), APEC, EU và NAFTA. Riêng ASEAN sẽ phát triển thành một Liên Hiệp Đông Nam Á theo mô hình EU hiện nay. Các thập niên sau: thêm các khu vực khác đang hình thành như SAARC (Nam Á), Trung Mỹ, Nam Mỹ, các tổ chức ở Phi châu.

-- Trong vài thập niên tới, nhóm các nước giầu mạnh (G8 và có thể thêm một số nước hoặc khu vực khác), và Hội Đồng Bảo An LHQ, vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định thế giới, cả về chính trị lẫn kinh tế thương mại và quân sự. Trong đó Mỹ vẫn giữ vai trò trọng yếu nhất. Mỹ và EU đi đầu trong việc triển khai mô hình chính trị dân bản và dân chủ tham gia, cùng với việc thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa.

4/ Một số vấn đề khác như vấn đề Trung Đông, chưa giải quyết xong; hy vọng sẽ được giải quyết trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI.

3. Kinh Tế: Nền kinh tế thị trường xã hội sẽ phát triển nhanh với các tính chất: vừa tự do cạnh tranh, vừa tăng cường phúc lợi xã hội, bảo đảm bình đẳng cơ hội và phát triển đồng đều và bền vững.

(a) kinh tế thương mại sẽ phát triển theo xu hướng tư bản xã hội hóa và toàn cầu hóa về mặt thị trường vốn, kỹ thuật, và tiêu thụ, đồng thời cá thể hóa về mặt sản xuất và hưởng dụng (niche vs mass production) với các tính chất sau đây:

(1) mậu dịch tự do không biên giới;

(2) xã hội hóa tư bản (thị trường chứng khoán + cổ phần hóa nói chung+ cổ phần hóa cho người làm việc và cho người tiêu thụ nói riêng);

(3) xã hội hóa sản xuất (quan hệ đối tác hỗ tương giữa người sản xuất và người tiêu thụ); quan hệ trách nhiệm hỗ tương giữa thương mại và cộng đồng xã hội.

(4) quan hệ hỗ tương và tự động điều chỉnh giữa các thành tố của nền kinh tế

-- quan hệ giữa kinh tế quốc gia, với khu vực và quốc tế;

-- quan hệ giữa tư nhân liên quan tới kinh tế và thương mại với chính quyền, và giới tiêu thụ. Chính quyền đóng vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế tư nhân, đồng thời bảo đảm phát triển bền vững và công bằng.

-- quan hệ hỗ tương nội tại của hoạt động kinh tế giữa cung cấp nguyên vật liệu, tài chánh với sản xuất, lưu thông sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm và các loại dịch vụï liên quan tới sản xuất và tiêu thụ.

(b) Thương Mại: thương mại toàn cầu không biên giới. Tự do giao thương liên quốc gia, toàn khu vực và toàn cầu liên khu vực. Tác động trực tiếp tới xu thế toàn cầu hóa và tạo điều kiện và môi trường hình thành cộng đồng nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc, thông qua tự do trao đổi hàng hóa và thông tin toàn cầu không biên giới.

(c) Nền kinh tế tri thức toàn cầu (global knowledge economy) chiếm ưu thế trên nền kinh tế cũ. Tri thức và thông tin là trung tâm của kinh tế, với Hi-Tech, global e-commerce, IT (Information Technology), và global e-stock market. Nền kinh tế thương mại toàn cầu mới cùng với IT, Internet, thúc đẩy quá trình hình thành cộng đồng quốc tế, nền dân chủ toàn cầu và nền văn hóa cộng đồng nhân loại.

(d) Vai trò quan trọng của WTO, và các tổ chức tài chánh quốc tế (Worl Bank. IMF) trong vịệc ổn định và phát triển kinh tế thế giới, khu vực và tại mỗi quốc gia. Tuy nhiên các tổ chức này, cùng với LHQ và các tổ chức chính trị, văn hóa, nhân quyền quốc tế, cả chính phủ lẫn phi chính phủ, cần được cải tiến nhiều hơn nữa. Có thế những tổ chức này mới đóng góp có hiệu quả vào việc thực hiện xu thế quốc tế là giải tỏa mâu thuẫn nước lớn-nước nhỏ và giầu-nghèo nhằm xây dựng một cộng đồng quốc tế ngày càng ổn định hơn, công bằng hơn và nhân bản hơn.

(e) quan hệ giữa kinh tế thị truờng và trách nhiệm xã hội: tăng cường các chính sách trợ cấp xã hội, an sinh và phúc lợi xã hội dành cho toàn dân và đặc biệt cho những thành phần yếu kém trong xã hội; tăng cường sự đóng góp của kinh tế thương mại cho an sinh và phúc lợi xã hội (thuế, bảo hiểm, hưu bổng…). Đồng thời bảo vệ và bồi dưỡng môi trường sinh thái để bảo đảm phát triển bền vững.

(f) Asia-Pacific trở thành trung tâm kinh tế thương mại thế giới sau khi một cộng đồng Trung Hoa mới ra đời. ASEAN sẽ trở thành khu vực phát triển năng động thứ ba trên thế giới sau Bắc Mỹ (NAFTA) và EU. Một cộng đồng Trung Hoa mới ra đờùi, dân chủ và phát triển, sẽ đóng góp cụ thể và tích cực vào việc tạo dựng kỷ nguyên Á Châu-Thái Bình Dương.

4. Văn Hóa:

(a) Văn hóa cộng đồng nhân loại:

(1) Những hiểu biết ngày một vi tế và cụ thể hơn trong cả ba ngành nhân văn, xã hội và tự nhiên sẽ giúp con người có tầm nhìn và hiểu biết vừa hiện thực hơn lại vừa toàn diện hơn về bản thân mỗi con người (cá nhân trong Con Người, và Con Người trong mỗi cá nhân), cũng như tương quan giữa mỗi con người với môi sinh tự nhiên và đời sống xã hội. Mỗi con người sẽ ngày càng có khả năng làm chủ được đời sống của mình hơn và đóng góp tích cực và có hiệu quả hơn vào việc cải thiện đời sống chung.

(2) Các vấn đề liên quan tới giá trị nhân sinh và quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên ngày càng trở nên mối ưu tư chung trong một xã hội nhân loại toàn cầu vừa phát triển rất nhanh, vừa chứa đựng những yếu tố tiêu cực và suy thoái như: ô nhiễm môi sinh, đảo lộn sinh thái, băng hoại đạo đức, xáo trộn cơ cấu, bất công xã hội...

(3) Đồng thời, những tiến bộ về giao thông và truyền thông, đặc biệt là truyền thông điện tử, đã thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian, tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu đa văn hóa, đa chủng tộc. Từ đó hình thành dần một ý thức và một nền văn hóa cộng đồng toàn nhân loại.

(4) Sinh hoạt văn hóa quốc tế càng phát triển càng thôi thúc sự hình thành những chuẩn mực giá trị đạo đức và tinh thần mang tính toàn cầu, tính quốc tế, tính nhân loại --một tiêu chuẩn quốc tế chung cho các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau làm chuẩn mực cho một đời sống nhân loại đang hình thành khắp nơi trên hành tinh. Đây là động lực bên trong của các biến động và thay đổi trong bang giao quốc tế, trong hệ thống chính trị, kinh tế, công ước và công pháp quốc tế.

(5) Quan hệ giữa dân tộc và nhân loại, giữa quốc gia và quốc tế, sẽ là một quan hệ mở và hỗ tương, trong bối cảnh toàn cầu hóa, mỗi dân tộc sẽ có môi trường và điều kiện phát triển ngày càng dễ hơn và nhanh hơn. Đồng thời xu thế toàn cầu hóa là một thách thức đối với mỗi dân tộc: bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc có thể tồn tại và phát huy như thế nào trong một nhân loại vừa ngày càng nhất thể vừa tôn trọng tính đa dạng văn hóa?

(b) Á-Âu Mỹ tái hòa hợp: Thế kỷ XX là thế kỷ xung đột Á-Âu do hậu quả của thực dân hóa, của Âu Châu phát triển ra toàn thế giới. Trong thế kỷ XXI, Á Châu phục hưng trong xu thế nhân bản hóa và toàn cầu hóa tạo điều kiện cho sự tái hòa hợp Á-Âu Mỹ trong tinh thần kết hợp khoa học kỹ thuật Tây phương với đạo học nhân văn Đông phương. Khoa học nhân bản hơn và đạo học thực tiễn hơn. Á Âu bổ xung lẫn cho nhau để cùng đóng góp vào việc hình thành nền văn hóa cộng đồng nhân loại trong xu thế phát triển con người một cách toàn diện và quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa tự nhiên và con người, giữa cá nhân với xã hội, giữa dân tộc với nhân loại.

(c) Tôn Giáo: Các tôn giáo có tổ chức chặt chẽ sẽ gặp nhìều khó khăn về cơ cấu và nghi thức đòi hỏi một tầm nhìn mới và nhiều cải tổ cần thiết để tôn giáo tiếp tục đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người. Con người tiếp tục tiến trình mở rộng tầm nhìn tâm linh đa tín ngưỡng, tạo môi trường thuận lợi cho các quan điểm ôn hòa và hòa hợp tôn giáo. Đồng thời những hiểu biết mới về tự nhiên, sự sống và về con người sẽ giúp phổ thông hóa và tăng cường thêm khả năng chủ động sinh tâm lư của con người đối với bản thân, xã hội và sinh thái. Nhờ đó con người có thêm những điều kiện mới để mở rộng và nâng cao sinh tâm thức ra đại tự nhiên và sự sống. Tôn giáo trong thế kỷ XXI sẽ bớt đi nhiều giáo điều, lễ nghi hình thức và mang nhiều nội dung và sinh hoạt phong phú hơn và gần gũi hơn với đời sống con người.

(d) Internet và giao lộ thông tin quốc tế: Đây sẽ là lãnh vực phát triển nhanh nhất và mạnh nhất, tác động trực tiếp tới việc hình thành một đời sống và một nền văn hóa cộng đồng quốc tế, phá vỡ các biên giới địa lư và chủng tộc, mở rộng cửa cho những trao đổi thông tin, văn hóa, tư tưởng quốc tế toàn nhân loại. Cùng với tính di động toàn cầu (global mobility), tính di động xã hội (social mobility, trong mỗi quốc gia), và tự do thương mại toàn cầu, sẽ tạo thêm những yếu tố đồng nhất trong đời sống nhân loại, vượt qua những khác biệt ngôn ngữ, phong tục và lối sống. Đời sống nhân loại sẽ vừa đồng nhất hơn, lại vừa đa dạng, phong phú hơn. Đồng nhất về kiến thức, về mô hình tổ chức và quản lý xã hội (systems theory), về phương pháp làm việc (system approach). Phong phú đa dạng về văn học nghệ thuật, phong tục tập quán. Nguyên tắc "thống nhất trong đa dạng” (unity in diversity) được thực hiện trong mỗi xã hội, cũng như trên toàn thế giới. Một xã hội nhân đạo toàn cầu sẽ ra đời trong xu hướng nhân loại là một nhưng dân tộc thì nhiều. Nhân loại thống nhất trong sự phong phú đa dạng của các nền văn hóa dân tộc.

5. Một số vấn đề toàn cầu trong thế kỷ XXI:

(a) Giải quyết tương quan vừa khác biệt, độc lập, vừa liên hệ hỗ trợ (đối lập thống nhất) giữa cá nhân với tập thể, giữa cá nhân với Con người (loài người), giữa Con người với tự nhiên, giữa quốc gia dân tộc với thế giới nhân loại.

(b) Môi trường sinh thái toàn cầu bị hủy hoại;

(c) Các quyền con người bị đe dọa trong mức độ toàn cầu: buôn bán trẻ em, phụ nữ xuyên quốc gia. Mở rộng quyền con người sang các lãnh vực mới như quyền súc vật, quyền di chuyển, sinh sống và làm việc không biên giới quốc gia.

(d) Quan hệ Bắc (các nước giầu) và Nam (các nước nghèo và phát triển chậm): từ chi phối, cầm nắm, sang hợp tác, cùng sống và giúp tiến.

(e) Vấn đề tạo hòa bình và ổn định toàn cầu bền vững: nhân tố và định chế nào? Về cả ba mặt kinh tế, văn hóa và chính trị. Trong đó có, nạn khủng bố quốc tế (liên hệ mật thiết tới vấn đề Hồi giáo cực đoan, và tái cấu trúc quan hệ Á-Aâu Mỹ).

(f) Vấn đề mở rộng biên cương nhân loại và thế giới về mặt tinh thần (cái biết, sinh tâm thức) và về mặt vật thể (biên cương thiên thể, di chuyển và liên lạc liên hành tinh)

B. Việt Nam Trong Thế Kỷ XI:

1. Việt Nam và Thế Giới: Việt Nam có nhiều triển vọng có được dân chủ tự do, điều kiện và cơ hội để “cất cánh” bắt đầu từ thập niên thứ hai của thế kỷ, trong bối cảnh một khu vực ASEAN và Trung Hoa mới, tự do, dân chủ, ổn định, và một môi trường quốc tế Á-Âu giao lưu và hòa hợp. Việt Nam sẽ hội nhập vào một Á Châu-Thái Bình Dương ổn định, tự do và phát triển, và một Liên Hiệp ASEAN cùng sống và cùng tiến.

(a) Việt Nam với ASEAN: Những nước trong khu vực ĐNA hiện nay còn độc tài, chưa ổn định, sẽ trở thành những nước có chế độ dân chủ và nền kinh tế thị trường. Sẽ tiến nhanh tới việc có biên giới ngỏ về quan thuế (non-tariff barrier), di chuyển, cư trú và làm việc giữa các nước thành viên ASEAN. Hợp tác trong vùng sẽ mở rộng từ thương mại, kinh tế sang văn hóa, giáo dục, văn học nghệ thuật, truyền thông. Tiến dần đến một hình thức Liên Hiệp như EU, Liên Hiệp Đông Nam Á. Những biến chuyển khách quan có tính xu thế này sẽ tác động tích cực vào tiến trình tự do hóa Việt Nam, và tác động tiêu cực vào ý đồ duy trì độc quyền chính trị của thành phần bảo thủ trong ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Vai trò Việt Nam ngày càng trở nên tích cực và năng động hơn sau thời kỳ cộng sản, nhờ vị trí địa lư chính trị và tính đa dạng về văn hóa (đủ các tôn giáo lớn), chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn hóa tư tưởng khác nhau (Khổng, Lão, Phật, Pháp, Mỹ, Nhật…).

(b) Việt Nam với Trung Hoa: Trung Hoa cộng sản có thể phải trải qua một thời kỳ biến loạn chính trị xã hội có nguy cơ gây bất ổn định khu vực. Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề, có khả năng cũng sẽ xảy ra biến loạn chính trị xã hội hoàn toàn bất lợi cho chế độ cộng sản. Chếù độ cộng sản có thể bị suy sụp trong viễn cảnh này. Việt Nam thời kỳ hậu cộng sản sẽ giao hảo với một cộng đồng Trung Hoa mới, tự do dân chủ hóa và kinh tế thị trường. Giao hảo trong khung cảnh quan hệ chung giữa ASEAN và Liên hiệp Trung Hoa mới.

(c) Việt Nam với Hoa Kỳ: Vai trò của Mỹ sẽ ngày càng quan trọng và có tính quyết định trong việc giải quyết các vấn đề của Á Châu-Thái Bình Dương, đặc biệt là vấn đề Trung Quốc. Mỹ sẽ chuyển dần sự chú ư cả về mặt kinh tế thương mại, văn hóa lẫn chính trị và quân sự từ Âu Châu sang Á Châu. (Tham khảo bài diễn văn của Tổng Thống Clinton đọc tại Quốc Hội LB Úc ngày 20/11/1996). Mỹ sẽ ngày càng vào sâu hơn tại ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng để chuẩn bị cho tình hình mới. Thương Ước Mỹ-Việt chỉ là bước khởi đầu có tính quyết định, không đảo ngược được, trong tiến trình này. Vấn đề hiện nay là: Liệu Mỹ có kiểm soát đươc tình hình ở Trung quốc và Việt Nam theo đúng lộ trình "diễn biến hòa bình" không, hay sẽ xẩy ra những biến động không kiểm soát được. Và do đó, liệu Mỹ có chuẩn bị thích đáng và kịp thời để ứng phó với những biến động đó không? Những gì đã xẩy ra ở miền Nam VN, ở vùng Balkan, ở Trung Đông không cho phép chúng ta chủ quan về khả năng này của Mỹ. Do đó những người dân chủ Việt cần chuẩn bị các kế hoạch và lộ trình riêng, để có thể chủ động đối phó với mọi tình huống, không để bị động bởi những sơ hở hay thay đổi trong sách lược của Mỹ, như trước đây.

(d) Việt Nam và các nước khác: Nhật và Úc sẽ ngày càng chia sẻ các trách nhiệm và quyền lợi với Mỹ và EU ở Việt Nam nói riêng, Trung Hoa và Á Châu-Thái Bình Dương nói chung. Vai trò của Nga sẽ được tăng cường trở lại nhưng không còn mạnh như thời kỳ Liên Xô cũ.

(e) Việt Nam với Miên-Lào: Mô hình Đông Dương tồn tại 100 năm nay kể từ thời Pháp thuộc đang và sẽ vĩnh viễn tan vỡ để hòa nhập trong ASEAN và có thể giữa ASEAN với vùng Hoa Nam. Miên không còn là đồng minh của Việt Nam cộng sản nữa. Lào cộng sản là hậu cứ cuối cùng của Việt Nam sẽ tan vỡ cùng với sự tan vỡ của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Nhưng Việt Nam dân chủ hậu cộng sản sẽ phải giải quyết một cách khó khăn vấn đề biên giới với ba nước láng giềng Lào, Miên và vùng Hoa Nam. Có thể phải cần đến một giải pháp ASEAN và quốc tế cho các vấn đề biên giới đất liền và chủ quyền các đảo vùng biển Đông.

2. Xã Hội Việt Nam: Sau đây là những gợi ý khảo hướng cho chính sách xây dựng Việt Nam hậu cộng sản:

a/ Tổng Quan: Sau một thời kỳ bất ổn định ngắn, từ thập niên thứ hai của thế kỷ, đất nước sẽ chuyển mình sang thời kỳ hưng thịnh với chế độ dân chủ, kinh tế thị trường và sinh hoạt văn hóa học thuật tự do, trong bối cảnh hội nhập vào một ASEAN đầy năng động và môi trường quốc tế hòa hợp Á-Âu. Nên tập trung cố gắng vào việc xây dựng một xã hội dân sự dân bản (humanist civil society) trong đó toàn bộ sinh hoạt xã hội nằm trong tay người dân, chính quyền chỉ điều hợp, và bảo đảm công bằng và cơ hội đồng đều cho mọi thành phần dân chúng. Có thể tóm lược đường lối phát triển qua tiêu ngữ: chính trị dân chủ pháp trị, kinh tế thị trường xã hội và văn hóa giáo dục tự do. Trong thời kỳ chuyển tiếp, cần có những chính sách và chương trình cứu trợ nhân đạo và thống nhất dân tộc để nhanh chóng ổn định tâm lư và đời sống toàn dân, không kỳ thị và phân biệt vì bất cứ lý do gì (tôn giáo, địa phương, thành phần dân tộc, giai tầng xã hội, quan điểm chính trị, tư tưởng, quá khứ...). Mọi vấn đề do quá khứ để lại sẽ được giải quyết bằng luật pháp công minh.

b/ Chính Trị Dân Chủ: Chế độ dân chủ pháp trị và dân bản. Phối hợp giữa cơ chế dân chủ đại nghị với các hình thức dân chủ tham gia. Chính quyền, cả trung ương lẫn cấp vùng và địa phương đều do dân cử, không trực tiếp tham gia các sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội. Chính quyền có nhiệm vụ triệt tiêu mọi hình thái độc quyền, bảo đảm công bằng xã hội và bình đẳng cơ hội, cho mọi thành phần dân tộc, và mọi miền đất nước. Còn xã hội là dân bản, mọi sinh hoạt (kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị) đều do dân trực tiếp thực hiện, cả ở cấp địa phương lẫn quốc gia và quốc tế (người dân có điều kiện trực tiếp giao lưu với quốc tế). Xác nhận và tăng cường vai trò của các tổ chức dân sự phi chính phủ, của truyền thông, của các cơ sở văn hóa, giáo dục và nghiên cứu học thuật. Đề cao tinh thần pháp trị (rule of law), tăng cường vai trò của tòa án và luật pháp, xây dựng hệ thống luật lệ dân bản, tôn trọng dân quyền và nhân quyền, và phù hợp công pháp quốc tế. Xác lập nền tư pháp độc lập, công minh và vô tư, và hệ thống kiểm soát và chế tài công quyền (check and balance). Thực hiện chế độ dân chủ pháp trị, toàn dân, và đa nguyên với bốn tính chất căn bản:

nền tảng của xã hội là các hoạt động công dâân đa diện và đa dạng do chính người dân thực hiện, (xã hội công dân);

địa phương tản quyền để phát huy đồng đều tiềm năng toàn diện của mọi vùng đất nước, mọi thành phần dân tộc;

trung ương tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp), giữ vai trò điều phối và điều tiết bằng chính sách và luật pháp để bảo đảm bình đẳng cơ hội và phát triển bền vững và công bằng cho toàn dân và toàn quốc; và

quốc gia chính thức công nhận (trong Hiến Pháp) vai trò theo dõi và cảnh báo dư luận xã hội của các tổ chức độc lập với chính quyền và các đảng phái (báo chí, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu, và các cơ quan thăm dò dư luận…) đối với các hoạt động công quyền.

Xã hội Việt trước đây, ngay trong thời kỳ quân chủ, cũng đã mang một hình thái xã hội dân sự có đặc thù tính Việt Nam, với những hoạt động và cơ cấu dân bản do dân chúng trong làng xã tự động tổ chức và thực hiện ("phép vua thua lệ làng"). Do đó chế độ chính trị dân chủ dân bản với những tính chất nêu trên có khả năng phát triển được trong thời kỳ hậu cộng sản, nhất là trong bối cảnh và điều kiện một nhân loại toàn cầu hóa và nhân bản hóa.

c/ Kinh Tế Thị Trường Xã Hội: Việt Nam cần phát triển nền kinh tế thị trường xã hội, vừa tự do cạnh tranh vừa có trách nhiệm xã hội, bảo đảm bình đẳng cơ hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển đồng đều và bền vững. Các hoạt động kinh tế thương mại đều do tư nhân thực hiện. Chính quyền chỉ trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh nào tư nhân không làm hoặc chưa làm nhưng cần thiết cho quốc phòng, hay dân sinh, như điện, nước…và sẽ giải tư ngay khi có thể được. Quốc gia phải bảo đảm điều kiện và cơ hội phát triển hết tiềm năng và đặc thù kinh tế, văn hóa của mọi vùng trong nước. Có chính sách nâng đỡ và hỗ trợ các thành phần yếu kém trong xã hội, và các vùng kém phát triển (nông thôn, vùng núi), bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho toàn dân. Mở rộng cửa giao lưu thương mại, kinh tế với ASEAN và thế giới để đẩy nhanh tiến trình phát triển đất nước. Nhưng cần duy trì phát triển bền vững, bảo vệ sinh thái, bảo đảm công bằng xã hội, phát triển đồng đều mọi vùng đất nước, bảo đảm công ăn việc làm và tăng trưởng mức sống cho mọi thành phần dân chúng.

d/ Văn Hóa Giáo Dục Tự Do: Văn hóa bao gồm các hoạt động tinh thần (giáo dục, văn học nghệ thuật, truyền thông, tôn giáo và tín ngưỡng). Các sinh hoạt tinh thần, văn hóa, giáo dục phải nhằm tạo được môi trường, cơ hội và điều kiện để mỗi người Việt vừa thể hiện được những tính chất đặc thù và tích cực trong nền văn hóa dân tộc, vừa đãi lọc và hòa nhập được vào trào lưu văn hóa toàn cầu tiến bộ và nhân bản.

(1) Cần có một nền văn hóa toàn dân, sinh động và tự do, với phẩm chất cao dần, đồng thời phổ quát trong mọi tầng lớp nhân dân qua việc phát triển hai mạng lưới giao lưu xã hội là giao thông vận tảitruyền thông xã hội (bao gồm bưu điện, điện thoại, truyền thanh truyền hình, internet, xuất bản, sách báo), để mở rộng sự di động xã hội cả vật thể lẫn tinh thần đồng thời nhanh chóng hòa nhập nước ta vào sự di động toàn cầu.

(2) Cần có một nền giáo dục tổng hợp giữa đạo học nhân văn với khoa học kỹ thuật, giữa nhận thức và kiến thức tổng quát với khả năng và kỹ năng chuyên môn, giữa văn hóa dân tộc với văn hóa nhân loại toàn cầu. Truyền thông điện tử, quốc nội và quốc tế, sẽ phát triển nhanh chóng và rộng khắp, nhờ kỹ thuật mới với giá ngày càng thấp hơn. Điều này, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và xã hội dân sự, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành một hệ thống giáo dục mới song song với hệ thống giáo dục nhà trường. Đó là hệ thống giáo dục toàn dân, trong xã hội và ngoài nhà trường, không cần trường lớp, cho mọi lứa tuổi, đáp ứng mọi nhu cầu học tập của toàn dân từ giáo dục phổ thông như trong nhà trường, tới huấn nghệ sơ trung cấp, và các loại kiến thức tổng quát. Giáo dục là chìa khóa phát triển, đặc biệt trình độ dân trí nước ta còn rất thấp, cần nâng cao dân trí của toàn dân trong thời gian ngắn nhất. Hệ thống giáo dục toàn dân là giải pháp tốùi ưu có tính khả thi cao, phải được coi trọïng ngang với hệ thống giáo dục nhà trường.

e/ Ba nhân tố phát triển Việt Nam trong thế kỷ XXI.

(1) Trong nội bộ xã hội Việt có ba nhân tố phát triển là: Kinh tế thị trường xã hội, văn hóa giáo dục tự do và phổ quát, và chính trị dân chủ pháp trị (công quyền) và toàn dân (xã hội công dân). Ba nhân tố phát triển này vận hành thông lưư hỗ tương hai chiều giữa quốc gia với khu vực và quốc tế, giữa cộng đồng Việt (trong-ngoài nuớc) với cộng đồng nhân loại (ASEAN, Asia-Pacific và toàn cầu) và trong bối cảnh ra đời một cộng đồng nhân loại toàn cầu mới (Á-Âu hòa hợp).

(2) Trong điều kiện có được tính di động xã hội và di động toàn cầu nhanh và rộng khắp, ba nhân tố này sẽ cùng tác động nhau, thúc đẩy nhau, tạo các điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để nhanh chóng khắc phục những nhược điểm, phát huy những thế mạnh cả về vật thể lẫn tinh thần của người dân Việt Nam. Nhờ đó sẽ vừa phát huy nội lực dân tộc, vừa tận dụng trào lưu tiến bộ của thế giới để đưa nước ta vào thời kỳ phát triển nhẩy vọt, thu ngắn và thu hẹp cách biệt giữa nước ta và các nước khác trong vùng ĐNÁ.

(3) Với những tiến bộ của thế giới về giao thông vận tải, truyền thông điện tử và các kỹ thuật quản trị và tổ chức xã hội hiện đại, trong xu thế toàn cầu hóa quân bình Á Âu, và trong bối cảnh đang hình thành một cộng đồng nhân loại không biên giới hay biên giới quốc gia ngỏ, những dự kiến về sự hình thành và vận hành của ba nhân tố phát triển trên đây ở Việt Nam là có thể thực hiện được. Và một nước Việt Mới, dân chủ và phát triển, có thể ra đời được trong một khoảng thời gian vài thập niên hậu cộng sản. Các yếu tố tâm lý và vật thể nội tại và ngoại tại đã tương đối đầy đủ, chỉ còn thiếu một yếu tố quyết định là cơ chế chính trị-xã hội cởi mở, dân chủ, thật sự do dân và vì dân, với hai yếu tính: (1) giải phóng triệït để sức sống, sức sáng tạo và làm việc cho toàn dân trên cả hai mặt kinh tế và văn hóa; (2) hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để toàn dân phát huy hết các tiềm năng đó một cách bền vững và công bằng.

 

Phần II

Việt Nam – Hiện Trạng

A. Trong Nước (2000)

1. Tổng quan: Lợi tức đầu người GDP: US$360.00 (2000); dân số: 78 triệu với 65% dân số dưới 40 tuổi; 80% dân số sống ở nông thôn; thất nghiệp và bán thất nghiệp: 20% đến 30% lực lượng lao động; nợ quốc gia: trên 20 tỷ đô la Mỹ (2000, sẽ gia tăng nhanh trong những năm tới). Bắt đầu tiến trình hội nhập cộng đồng nhân loại: quan hệ tương đối tốt với nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (World Bank, IMF (International Money Fund), hội viên ASEAN (Association of Southeast Asian Nations), APEC (Asia-Pacific Economic Council). Sắp là hội viên WTO (World Trade Organization)).

2. Kinh tế thương mại:

(a) Từ khi đảng CSVN chấp nhận “đổi mới” kinh tế, đời sống nhân dân khá hơn, nông dân được tự do canh tác, đất nước đã dư gạo để xuất khẩu. Tuy nhiên viø chưa có chính sách quốc gia đúng và có hiệu quả về nông nghiệp, lại thêm nạn "cường hào ác bá" mới ở nông thôn, nên đời sống nông dân vẫn cực khổ, khoảng cách nông thôn thành thị ngày một lớn hơn. Kinh tế vẫn chưa qua khỏi thời kỳ chuyển đổi cơ cấu sang thời kỳ “cất cánh” và phát triển bền vững. Năm thành phần kinh tếù thể hiện sự nặng nề và không hiệu quả: quốc doanh (chủ đạo), tư bản nhà nước, tư bản tư nhân, hợp tác và tư bản ngoại quốc. Xí nghiệp quốc doanh thua lỗ, gánh nặng cho nền kinh tế. Nông dân phải bán nông sản phẩm với giá quá thấp lại chịu nhiều hình thức bóc lột mới. Kinh tế tư nhân chưa phát triển được. Ngân hàng, hệ thống tài chánh, thuế má, ngân sách công, chưa được cải tổ đúng mức. Thị trường chứng khoán mới bắt đầu thử nghiệm (7/2000). Thương ước Mỹ-Việt đã được kư (13/7/2000), chưa thi hành. Kinh tế xuống thấp và bế tắc từ 1996. Thị trường tràn ngập hàng lậu từ Trung quốc (phía Bắc) và Thái Lan (phía Nam). Chưa tạo được môi trường và điều kiện phát triển bền vững và lành mạnh ví các bệnh thái chính trị-xã hội như tham nhũng, thâm lạm công quỹ, lãng phí tài nguyên, lạm dụng quyền thế. Hệ thống công quyền nặng nề, thủ tục hành chánh rườm rà chậm chạp. Luật pháp chưa rõ ràng và ổn định. Môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Tiêu thụ nhiều hơn sản xuất. Chênh lệch nghèo–giầu, nông thôn–thành thị quá lớn (GDP: 100 /1.000 US$ (hai ba thành phố lớn)). Với đường lối kinh tế như hiện nay, Việt Nam không thể ra khỏi bế tắc và "cất cánh"được. Việt Nam chỉ phát triển được khi dứt khoát và nhanh chóng chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường, tự do hóa toàn bộ sinh hoạt xã hội, đồng thời hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.

(b) Trước 1990, là thời kỳ kinh tế chỉ huy. Từ 1990 trở đi (hợp thức hóa bởi bản Hiến Pháp 1992), kinh tế tư nhân được phục hồi, nhưng đóng vai trò phụ, với kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Từ sau khi kư Thương Ước Mỹ-Việt và tham gia thị trường tự do ASEAN trở đi, các cơ cấu cần thiết cho việc xây dựng nền kinh tế thị trường sẽ dần dần được củng cố (liên quan đến luật pháp, tài chánh, ngân hàng, thuế má, ngân sách, xuất nhập khẩu; thị trường vốn, nhân công, kỹ thuật). Tự do kinh doanh và tư do cạnh tranh ngày càng được củng cố hơn. Kinh tế tư nhân sẽ phát triển nhanh hơn, ngang hàng rồi dần dần tiến lên vượt qua kinh tế quốc doanh. Người dân dành lại được nhiều quyền kinh tế hơn. Đời sống vật chất tăng tiến hơn. Nhưng khó ngăn chặn được khủng hoảng vì những thay đổi trong hai lãnh vực văn hóa và chính trị không đồng nhất và đồng nhịp với những thay đổi trong kinh tế thương mại. Tốc độ và mức độ thay đổi kinh tế vừa tạo điều kiện, vừa thôi thúc sự thay đổi về chính trị và văn hóa tư tưởng, trong khi đó ban lãnh đạo cộng sản không có quyết tâm, tầm nhìn và bản lãnh để thực hiện tự do hóa kịp thời và đồng nhịp trong hai lãnh vực quan trọng này. Người dân, nhất là giới trẻ thành thị, đòi được tự do hơn. Từ đó dẫn tới bế tắc và khủng hoảng mới, lần này trong lãnh vực văn hóa và chính trị-xã hội.

3. Văn hóa giáo dục:

(a) Chế độ hiện nay không coi trọng giáo dục như một động lực chính của phát triển. Ngân sách và phương tiện bị hạn chế nên chưa phổ cập được trung học, ngay tiểu học cũng chỉ phổ cập trên hình thức. Trình độ giáo dục thấp. Phẩm chất đại học quá thấp: đại đa số giáo sư đại học chỉ có bằng Cử nhân. Chi phí đại học ngày càng cao (cả ở trường công), tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học được vào học đại học quá thấp. Đại học không được tự trị và tự do giảng dạy, nghiên cứu nên không phát huy được vai trò trung tâm học thuật và chuyên nghiệp cao cấp của đất nước. Giáo dục không đáp ứng nhu cầu phát triển, cũng không tác động được vào tiến trình phát triển. Không phát huy được các công trình nghiên cứu có giá trị. Chế độ ngăn chặn việc hình thành một tầng lớp trí thức và thức giả độc lập, sáng tạo, đạt trình độ và phẩm chất tri thức quốc tế và thời đại.

(b) Môi trường giáo dục kém, tác động tiêu cực lên thanh thíếu niên và sinh viên học sinh. Đất nước rất trẻ, nhưng môi trường xã hội, sinh hoạt kinh tế, văn hóa học thuật già nua bảo thủ, độc đoán, không có tự do, thiếu sinh khí, thiếu cơ hội phát triển. Thanh niên, sinh viên, trí thức, không dám quan tâm hoặc thờ ơ với tình hình đất nước.

(c) Văn nghệ sĩ hiện nay được tự do sáng tác hơn trước, nhưng chỉ trong giới hạn của nghệ thuật thuần túy. Khi bước sang các lãnh vực tư tưởng, xã hội và chính trị trí thức và văn nghệ sĩ đụng phải bức tường thành văn hóa tư tưởng một chiều bóp nghẹt sáng tạo và tiến bộ. Không có tự do tư tưởng, tự do trao đổi thông tin, tự do báo chí và tự do xuất bản, phát hành.

(d) Tôn giáo bị coi như mối đe dọa cho quyền uy của đảng chứ không được tôn trọng như một nhu cầu đạo đức và tâm linh tự nhiên của con người. Các lễ hội dân gian được cho phép nhưng do dân chúng tự động phục hồi, chính quyền địa phương thường chỉ nhắm khai thác tài chánh cho nhu cầu thu hút du khách. Cộng với đó là môi trường văn hóa tinh thần đóng cõi, độc đoán, ô nhiễm. Hậu quả là nếp sống tinh thần đạo đức bị băng hoại, đồng thời những vấn đề văn hóa tinh thần nghiêm trọng của dân tộc không được giải quyết: đó là vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc Việt trong tiến trình hội nhập trào lưu văn hóa khu vực và toàn cầu.

(e) Tình trạng suy đồi về văn hóa giáo dục hiện nay gây hậu quả tai hại lâu dài nhất đến yếu tố quyết định mọi phát triển, tiến bộï và văn minh của mọi xã hội: đó là Con Người. Người Việt hiện nay, đặc biệt là giới trẻ, hoàn toàn không có được môi trường và điều kiện chuẩn bị để đáp ứng nhu cầu xây dựng một nước Việt tự do, tiến bộ, công bằng và ổn định. Nếu không nhanh chóng thay đổi môi trường văn hóa giáo dục hiện nay thì vài thập niên nữa người dân Việt cũng không đáp ứng được nhu cầu đó. Đây là nguy cơ lớn nhất cho tiền đồ dân tộc.

(f) Khủng hoảng: xu thế phát triển nền kinh tế thị trường tạo áp lực mạnh mẽ lên giáo dục, và thông tin. Thanh thiếu niên cần nhiều cơ hội học tập hơn, cả phổ thông lẫn chuyên nghiệp. Sinh viên học sinh cần tự do học tập và trao đổi tri thức, giáo sư cần tự do nghiên cứu và giảng dạy. Thanh niên cần thêm việc làm. Cả xã hội cần thông tin và tri thức, ngày càng nhiều hơn và nhanh hơn, để tận dụng được cơ hội mới do kinh tế thi trường tự do và mở cửa đem lại. Những trí thức trẻ và du học sinh từ hải ngoại trở về tác động ngày càng sâu rộng hơn vào biến động xã hội, văn hóa giáo dục, thông tin văn học nghệ thuật ở trong nước. Mọi cố gắng kiểm soát và độc quyền không những không thể thi hành được, mà còn tạo căng thẳng xã hội, cản trở phát triển kinh tế và thương mại. Hội nhập thế giới về kinh tế thương mại mâu thuẫn với chính sách ngăn cản hội nhập thế giới về thông tin, văn hóa, giáo dục. Hoặc là ban lãnh đạo đảng cộng sản phải mở thêm cánh cửa tự do văn hóa, thông tin và giáo dục, chấp nhận hội nhập thế giới, chấp nhận tư nhân hóa, xã hội hóa các lãnh vực này mạnh và nhanh thêm nữa, và do đó đẩy nhanh tiến trình tự do hóa xã hội. Hoặc là duy trì độc quyền văn hóa thông tin giáo dục, hay tự do hóa quá chậm và từ đó lại đẩy xã hội vào bếâ tắc mới. Và đây sẽ là bế tắc cuối cùng, vì nền kinh tế thị trường đã được thiết lập và tự thân nó đòi hỏi phải được hoàn tất. Hậu quả sẽ là hỗn loạn xã hội để bung phá bế tắc, mở đường cho dân chúng được thật sự tự do làm ăn sinh sống và học hành, hòa nhập dòng tiến hóa chung của nhân loại.

(g) Kinh tế thị trường và thương mại tự do đòi hỏi văn hóa, thông tin và giáo dục tự do. Chính trị dân chủ phải đến sau, nhưng sẽ đến rất nhanh, hoặc bằng thay đổi hòa bình, hoặc bằng đột biến chính trị-xã hội.

4. Chính trị:

(a) Đảng Cộng Sản:

-- Sau ĐH IX, nhẹ dần về ư hệ cộng sản, nặng về bảo vệ độc quyền chính trị, và tháo gỡ bớt bế tắc về kinh tế. Vẫn duy trì trên căn bản đường lối chính trị nhưng đổi mới phương thức thực hiện. Có thể nới rộng hơn về mặt chính quyền, quốc hội và các đoàn thể xã hội cho thành phần ngoài đảng (kể cả từ hải ngoại về), nhất là trong kinh tế thương mại, giáo dục, văn học nghệ thuật phi chính trị. Cải tiến phương thức duy trì độc quyền nhưng chưa từ bỏ độc quyền, nhất là trong hai lãnh vực văn hóa tư tưởng và chính trị.

-- Tiếp tục bảo vệ độc quyền lãnh đạo và kiểm soát về mặt chính trị, văn hóa tư tưởng, thông tin báo chí, xuất bản, truyền thanh truyền hình, truyền thông điện tử. Tìm cách vận dụng các kỹ thuật hiện đại để theo đuổi sự toàn trị.

-- Điều chỉnh các biện pháp đàn áp đối kháng: mềm mỏng hơn cứng rắn, ngăn chặn hơn trừng phạt; triệt tiêu tổ chức và hành động, ngăn chặn phổ biến tư tưởng và quan điểm; triệt tiêu các cố gắng liên kết tổ chức trong-ngoài nước; nới lỏng hơn về dân sinh và dân quyền .

-- Mở rộng đối thoại nhân quyền và các quan hệ quốc tế phi chính trị; mở rộng các chương trình hoạt động phi chính trị ra cộng đồng hải ngoại; làm ngơ hoặc cho phép một cách hạn chế và không chính thức các hoạt động thuộc các lãnh vực phi chính trị ở trong nước, và từ hải ngoại về hoạt động ở trong nước.

-- Chấp nhận cởi mở về kinh tế, vận dụng các ưu điểm của nền kinh tế thị trường (đặc biệt là thị trường thế giới, sau Hiệp Ước Mỹ-Việt) nhưng vẫn muốn giữ độc quyền “đổi mới”, cả về mặt cấp độ (mở rộng ở cấp địa phương nhiều hơn cấp trung ương, mở rộng kinh tế nhưng không mở rộng chính trị), lẫn tốc độ (dù mau được, nhưng nếu hại cho độâc quyền chính trị thì vẫn phải chậm lại). Tuy nhiên những tác độïng của các hoạt động kinh tế, tài chánh và thị trường thế giới và khu vực sẽ dẫn đến những hệ quả ngoài ý muốn và vượt khỏi sự kiểm soát của ban lãnh đạo.

(b) Nguyên nhân tồn tại của đảng CSVN: Đảng CSVN yếu toàn diện, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa lẫn quân sự. Nhưng, theo chúng tôi, chưa sụp đổ vì những nguyên nhân sau đây:

* Trong tầm chiến lược khu vực của Mỹ và đồng minh (đặc biệt đối với Trung Hoa) còn có vai trò của đảng CSVN;

* Đảng CSVN đã mất lòng tin của quần chúng nhưng chưa có một lực lượng chính trị nào khác chứng tỏ có thể thay thế CSVN.

* Những người dân chủ trong và ngoài nước chưa kết hợp được với nhau và nhất là chưa tập hợp được quần chúng thành một trạân tuyến mới, tách biệt khỏi và cô lập được tập đoàn lãnh đạo cộng sản;

* Những người dân chủ hải ngoại chưa tạo được hình ảnh và uy tín quốc tế đủ để từ đó tách ban lãnh đạo cộng sản ra khỏi sự ủng hộ và dư luân quốc tế đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế cho một giải pháp dân chủ thay thế giải pháp cộng sản. Chỉ mới tạo được ủng hộ về các vấn đề dân quyền và nhân quyền, chưa tranh thủ được quốc tế ủng hộ tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

5. Quần chúng trong nước:

(a) Các khuynh hướng phản kháng tiếp tục phát triển, ngày một công khai hơn, có tổ chức hơn, đi từ ngấm ngầm tới bán công khai và trong tương lai gần có triển vọng tiến đến hoạt động công khai như một phong trào rộng lớn. Những vận động ôn hòa đòi các quyền tự do căn bản nhất là tự do tôn giáo, tự do hội họp, tự do phát biểu ý kiến sẽ ngày càng lan rộng và được quốc tế, Mỹ và hải ngoại hỗ trợ có hiệu quả hơn, nhờ giao lưu ngày một mở rộng giữa quốc nội và quốc tế. Các đòi hỏi dân sinh và dân quyền sẽ có thêm các điều kiện kinh tế xã hội để phát triển mạnh hơn, rộng hơn và công khai hơn. Một xã hội dân sự, dân bản chớm hình thành ngay trong lòng, và bất chấp, chế độï: người dân có nhiều điều kiện và cơ hội để tự động dành lại các quyền chủ động về kinh tế thương mại, rồi thông tin, văn hóa, giáo dục, trước khi dành lại được chủ quyền chính trị.

(b) Việt Nam đang ngày càng trẻ hơn. Đa số dân chúng không còn bị ám ảnh bới quá khứ, mà lo âu nhiều tới cuộc sống hiện tại, chưa thấy triển vọng gì ở tương lai. Các vấn đề chính trị, dân chủ, tự do và nhân quyền chưa phải là mối bận tâm của quần chúng, nhất là của giới trẻ, nhưng trong những năm tới chắc chắn sẽ được quan tâm nhiều hơn.

(c) Chúng tôi cho rằng cần nhận định hiện tượng này theo chiều hướng tích cực: dân chúng đang ở vào giai đoạn chuyển tiếp, từ miễn cưỡng tham gia các hoạt động chính trị của đảng và nhà nước, sang thờ ơ với chính trị (của giới cầm quyền), tự động tách biệt sinh hoạt thường ngày của họ ra khỏi nền chính trị quan chính (của đảng và do đảng). Trong khi đó thì có nhiều dấu hiệu cho thấy những sinh hoạt mang tính chính trị và văn hóa dân bản đang vận hành âm thầm vô danh ("ngoài luồng") trong quần chúng, bằng nhiều cách khác nhau, bất chấp nền chính trị và văn hóa quan chính của đảng và nhà nước Cộng sản. Nền kinh tế tư nhân, ngày càng phát triển nhanh và mạnh hơn, cùng với những sinh hoạt vô danh, tự động của quần chúng trong hai lãnh vực văn hóa và chính trị, như kiềng ba chân, đang tạo môi sinh xã hội thuận lợi nâng đỡ và hun đúc cho sự ra đời một nền văn hóa và chính trị mới.

(d) Chúng ta cần giúp thiết lập và củng cố kiềng ba chân này. Cùng với diễn biến khách quan của tình thế, với hoạt động ngày một gia tăng của phong trào tự do dân chủ, và với sự hỗ trợ quốc tế ngày càng hiệu quả hơn, chúng ta có khả năng vận động được sự tham gia của quần chúng, nhất là giới trẻ. Từ đó có thế và lực để bước vào giai đoạn chót của cuộc vận động hiện nay tức là vận động từ nhân quyền sang dân chủ hóa Việt Nam.

B. Hải Ngoại:

1. Thực trạng:

(a). Thành phần và khuynh hướng: Đại đa số thuộc thành phần tị nạn cộng sản, đa số từ miền Nam. Hai thành phần khác đáng chú ư: du học sinh (hiện còn ít, nhưng đang gia tăng nhanh), và những người tị nạn ở Đông Âu sau 1990. Về khuynh hướng chính trị: quan điểm chung là không chấp nhận cộng sản. Khác biệt về chủ trương (ôn hòa và cực đoan) và phương thức (cục bộ không toàn diện, thiên về một cách làm, tản mạn, vừa thiếu phối hợp, vừa đối kháng nhau). Trong giới hoạt động, hoặc tích cực quan tâm, đang hình thành ba khuynh hướng: trung tả, trung hòa và trung hữu, trong đó trung hữu chiếm đa số; trung tả và trung hòa hiện diện nhiều tại Âu Châu. Đa số quần chúng hiện giữ thái độ thầm lặng ít tham gia, nhưng vẫn luôn luôn theo dõi và mong đợi một vận hội mới cho đất nước.

(b). Thế hệ trẻ: Trên dưới 40: còn quan tâm và tham gia vào các vận động chính trị Việt Nam theo khuynh hướng trung hữu. Trên dưới 20: bị tách rời khỏi môi trường Việt Nam cả về văn hóa lẫn chính trị do đó ít hoặc không quan tâm tới Việt Nam. Số quan tâm có khuynh hướng trung hòa, hoặc trung tả (ở Âu Châu). Nói chung, những người trẻ ở hải ngoại quan tâm tới Việt Nam thường có khuynh hướng nhân bản, trong vị thế và nhãn quan của nhân loại và thời đại hơn là vị thế và nhãn quan Việt Nam, nhất là Việt Nam theo nhãn quan tương tranh chia rẽ và xa cách chính mạch thế giới. Nhu cầu tìm hiểu văn hóa Việt cần được đáp ứng đúng mức và có hiệu quả. Hai giới trẻ trong nước và hải ngoại, đặc biệt là hải ngoại, với kiến thức và kỹ năng hiện đại nhất của thế giới, sẽ ngày càng trở thành yếu tố tích cực đầy triển vọng cho việc xây dựng một nước Việt tự do và phồn vinh. Họ cần có điều kiện và cơ hội gặp gỡ, trao đổi, và làm việc với nhau để thông cảm nhau, bổ sung ưu khuyết điểm cho nhau, cùng nhau xoay chuyển hiện tại và xây dựng tương lai cho VN. Khuôn viên đại học, tách rời khỏi môi trường chính trị đảng phái và tranh chấp cộng đồng, và những diễn đàn văn hóa, học thuật nghiên cứu, khoa học kỹ thuật là nơi tốt nhất để tạo ra những điều kiện và cơ hội hoạt động và liên kết này cho giới trẻ trong và ngoài nước.

(c). Hoạt động chính trị: Khuynh hướng chống cộng quyết liệt đóng được vai trò duy trì trâän tuyến quốc gia, loại được hoạt động công khai của cộng sản ở hải ngoại cho đến trước 1990. Từ 1990 tới nay một trận tuyến mới đã mở ra cả về mặt nội dung (tự do, dân chủ, nhân quyền) lẫn hình thức (đa diện (kinh tế, văn hóa, chính trị) và toàn cầu (quốc tế, cộng đồng nhân loại và người Việt toàn thế giới) do đó đòi hỏi điều chỉnh sách lược và phương thức. Các mục tiêu và phương thức trong bối cảnh tương tranh lưỡng cực quốc tế (tư bản–cộng sản) và đảng tranh, tranh quyền cũ, không còn phù hợp tình hình mới cả ở quốc tế lẫn hải ngoại và trong nước, không đáp ứng được trông đợi của quần chúng nhất là giới trẻ, sẽ tiếp tục bị bế tắc, không đủ khả năng vận động quần chúng trong và ngoài nước. Do đó tất nhiên sẽ không khai thông được bế tắc chung của đất nước, không gỡ bỏ được thể chế cộng sản và không mở đường cho tương lai của dân tộc nếu không nhanh chóng có những điều chỉnh cần thiết cả về tầm nhìn, mục tiêu, đường lối lẫn tổ chức và phương thức hoạt động.

2. Đề nghị chiều hướng vận động cộng đồng người Việt hải ngoại:

Thời kỳ còn chế độ cộng sản:

1/ Thay đổi cách tiếp cận vấn đề Việt Nam: toàn dân, toàn diện và toàn cầu.

-- Nhìn Việt Nam từ bên trong nhiều hơn từ ngoài vào;

-- Nhìn Việt Nam từ quan điểm và lập trường dân tộc trong mong cầu của dân chúng và bối cảnh của thời đại; chuyển từ quan điểm tiêu cực chống cộng tiến lên vượt qua và chuẩn bị thay thế cộng sản; nhấn mạnh giải pháp hơn là tuyên truyền khích động;

-- Nhìn Việt Nam toàn diện, không chỉ từ góc độ chính trị, mà cả văn hóa giáo dục và kinh tế;

-- Nhìn Việt Nam trong tương quan hỗ tương liên lập với khu vực, và thế giới, trong-ngoài nước.

2/ Quan điểm chính trị:

-- đang chuyển dần từ cực hữu sang trung hữu. Cần kết hợp với trung tả thành quan điểm trung hòa. Quan điểm trung hòa là: dân tộc thống nhất và phục hưng trong nhân loại hợp tác và phát triển. Ở hải ngoại trong suốt hơn 20 năm qua vẫn luôn có những nỗ lực cá nhân và tập thể hoạt động theo chiều hướng trung hòa này nhưng vì các điều kiện quốc nội và quốc tế chưa thuận lợi nên chưa phát huy được sức mạnh của quan điểm đúng đắn này. Giờ đây tình hình đang ngày càng thuận lợi hơn, chúng ta cần cố gắng tạo môi trường và cơ hội để mọi cá nhân và tổ chức phát huy được phương thức hoạt động phù hợp với quan điểm trung hòa và từ đó mọi người mọi tổ chức đều có thể cùng nhau làm việc tích cực và có hiệu quả hơn cho một giải pháp Việt Nam dân chủ trong giai đoạn mới.

-- Trong tinh thần đó, chúng ta sẽ cùng nhau vận động chuyển cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại từ tiêu cực chống đỡ sang tích cực tiến công và chủ động đưa ra giải pháp thay thế cộng sản, chuyển từ "chống đỡ từ bên ngoài" sang "tác động vào, và từ, bên trong ". Vận dụng cơ hội mở cửa Việt nam ra thế giới, chuyển vận sức mạnh kinh tế tài chánh và văn hóa thông tin tự do từ hải ngoại về trong nước, hợp lực với khát vọng và sức mạnh tiềm ẩn của quần chúng trong nước để cùng giúp quần chúng tự tồn tại không cần, và tiến lên bất chấp, giới cầm quyền và ban lãnh đạo đảng cộng sản.

-- Các quan điểm và hoạt động duy chính trị, nhất là chính trị tư đảng, đảng chính không đáp ứng được nhu cầu vận động này. Cần vận động cho những quan điểm và hoạt động dân chính (chính trị dân bản, quan tâm và làm việc vì Việt Nam, vì toàn dân, cho toàn dân không cho riêng một đảng phái, một cá nhân nào), hoàn toàn khác biệt với hoạt động quan chính (cho chính quyền và đảng cầm quyền) và đảng chính (cho một cá nhân lãnh tụ hay đảng phái chính trị (partisan politics). Trong tinh thần và đường lối dân chính đó, và qua các hoạt động thuộc hai lãnh vực văn hóa và kinh tế mà tạo nên sức mạnh quốc dân phi cộng sản cả về tinh thần (văn hóa) lẫn vật chất (kinh tế). Môi trường và điều kiện quốc dân này sẽ thuận lợi cho một tập hợp dân tộc và một hành động chính trị đột biến khi thời cơ tới.

3/ Thông lưu hải ngoại và trong nước sẽ gia tăng cường độ và mở rộng phạm vi theo chiều hướng: nhẹ về chính trị quan chính và đảng chính, nặng về dân chính (dân làm dân cho dân và vì dân). Cần tiến hành các dự án tạo được môi trường và điều kiện dân sự, dân chính cho việc kết hợp hải ngoại với trong nước, thông lưu quốc nội với quốc tế, và cho việc phôi thai xã hội dân sự dân bản ngay trước khi chế độ cộng sản sụp đổ. Chính sự ra đời, dù phôi thai, của xã hội dân sự này sẽ trở thành tác nhân thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của tập đoàn lãnh đạo cộng sản và chế độ cộng sản. Cần chú ư đến vai trò quan trọng của giới trẻ (trên dưới 40 tuổi, cả ở hải ngoại và trong nước, bao gồm chuyên gia trẻ và sinh viên, kể cả du sinh) trong việc thúc đẩy sự hình thành xã hội dân sự, dân chủ dân bản. Cần tạo điều kiện và cơ hội để họ phát huy được vai trò này. Cần có các dự án hoạt đông trong khuôn viên đại học, với các hoạt động do sinh viên, và cho sinh viên.

4/ Trong đường hướng dân chính đó, khối người Việt Đông Âu đóng một vai trò quan trọng, đang và sẽ tác động ngày càng có hiệu quả hơn vào tình hình trong nước, cả về mặt chính quyền và về mặt quốc dân. Cần tạo điều kiện và cơ hội để hội nhập hoạt động của những người dân chủ Đông Âu với những hoạt động tại các nơi khác ở hải ngoại để tăng cường sức mạnh tổng hợp của hải ngoại.

5/ Môi trường quốc tế, cả ở Âu-Mỹ và Á châu, ngày càng thuận lợi hơn cho các vận động dân quyền và dân chủ cho Việt Nam. Các cường quốc Âu-Mỹ đang chuyển trọng tâm chú ư về Á Châu-Thái Bình Dương và Trung quốc. Sự hoạt động ngày càng lan rộng và có hiệu quả của các tổ chức nhân quyền quốc tế cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động dân chủ. Phe dân chủ có cơ hội nâng cao chất lượng vận động quốc tế đồng thời hình thành tiếng nói dân chủ Việt Nam có uy tín trước cộng đồng quốc tế và Mỹ.

(b) Thời kỳ hậu cộng sản: Ngay trong giai đoạn cuối cùng trước khi Việt Nam có dân chủ, cộng đồng Việt Nam hải ngoại cần chuẩn bị để đóng vai trò gạch nối giữa quốc nội và quốc tế, là cánh cửa mở Việt Nam hội nhập vào thế giới dân chủ và trào lưu tiến hóa của nhân loại.

1/ Đóng góp tích cực vào việc phát triển đất nước nhanh chóng và bền vững cả về tài chính, nhân tài và khoa học kỹ thuật. Trở thành nhân tố tích cực trong việc vận động quốc tế giúp phát triển VN.

2/ Thành lập Quỹ Quốc Tế Phát Triển Việt Nam (International Fund for Vietnam).

3/ Có chính sách thiết lập biên giới mở toàn diện (kinh tế, văn hóa, chính trị) giữa cộng đồng Việt Nam hải ngoại và quốc nội. Vận động để chính quyền dân chủ mới ở Việt Nam cho phép người Việt hải ngoại có quyền chọn lựa để được hưởng các quyền lợi chính trị như người Việt ở trong nước, như quyền bầu cử và ứng cử, với các qui định thích hợp. Nếu được chuẩn bị mọi mặt ngay từ bây giờ, cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là giới trẻ, sẽ là tác nhân lâu bền, tích cực và có hiệu quả trong việc xây dựng dân chủ và phát triển đất nước trong thời đại mới.

 

Phần III
Tổng Cương Về
Sách Lược Và Phương Thức Vận Động

Trước thực trạng và viễn ảnh thế giới và trong nước như trình bày trên đây, chúng ta cần mạnh dạn và nhanh chóng cùng nhau làm việc để tạo được một tâm thức chính trị mới và đưa ra được một tầm nhìn chiến lược mới, mang tính dân tộc, thời đại và quốc tế, cho cộng đồng Viêt cả ở trong nước và hải ngoại. Để làm được việc này chúng ta cần áp dụng một phương thức vận động mới, toàn diện hơn, nhân bản hơn, dân bản, dân quyền và dân sinh hơn.

Chúng tôi cho rằng mục tiêu trước mắt của tất cả các cá nhân và tổ chức chính trị hải ngoại là: vừa kết hợp mọi tầng lớp quần chúng hải ngoại với trong nước thành một khối, tách biệt khỏi và độc lập với tập đoàn thống trị thiểu số, vừa nêu bật trước dư luận quốc tế tính chất phi đạo lư, bất hợp phápthiếu chính thống của ban lãnh đạo cộng sản đang cầm quyền. Từ đó tạo được môi trường và điều kiện thuận lợi thúc đẩy những hoạt động chính trị có tầm vóc quốc dân và quốc tế, tác động hữu hiệu vào tình hình trong nước, để cuối cùng tạo được đột biến chính trị, thiết lập được thể chế dân chủ.

Những Biến Đổi Chính Trị Cóù Thể Xẩy Ra Ở Việt Nam:

1. Năm trường hơp chuyển sang dân chủ đã xẩy ra trên thế giới:

(1) Hậu quả của việc chấm dứt chiến tranh lạnh, tan vỡ khối Varsovie: Đông Âu, Liên Xô.

Vì phân liệt nội bộ, hoặc nội chiến: Bosnia, Kosovo;

Vì khủng hoảng hoặc sụp đổ kinh tế dẫn tới tan vỡ chế độ chính trị: trường hợp Indonesia;

(4) Trình độ phát triển chín muồi của xã hội mở đường cho dân chủ hóa: trường hợp Nam Hàn, hay Đài Loan (hoàn hảo nhất);

(5) Quốc tế can thiệp để chấm dứt chính sách diệt chủng: Cao Miên, Đông Timor.

2. Các Trường Hợp Có Thể Xẩy Ra ở Việt Nam:

(1) Đảng cộng sản chủ động cùng với những thành phần đối kháng ôn hòa chuyển đổi sang dân chủ theo kiểu Liên Xô và Đông Âu.

(2) Cho tự do kinh doanh nhưng hạn chế tự do chính trị và tự do văn hóa tư tưởng. Như Miến Điện, mở rộng chính quyền và Quốc Hội cho một thiểu số ngoài đảng cộng sản. Như Trung quốc, nới rộng bầu cử ở cấp địa phương.

(3) Cọ xát giữa hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến trong xã hội dẫn tới phân liệt xã hội theo địa phương, hoặïc theo giai tầng xã hội (giầu nghèo, nông thôn-thành thị) từ đó dẫn tới biến loạn xã hội và chính trị.

(4) Khủng hoảng kinh tế đi kèm những quyết định sai lầm dẫn tới hỗn loạn xã hội không kiểm soát được làm sụp đổ chế độ.

(5) Nổi loạn trong quần chúng (nông thôn, thành thị, từ lẻ tẻ tới bùng nổ lớn) chống bất công, tham nhũng, cường quyền.

(6) Phân liệt trong đảng (giữa trung ương với nhau, giữa trung ương với địa phương, giữa các địa phương với nhau), từ đó dẫn đến phân liệt nội bộ,;

(7) Bị cuốn vào cuộc tranh chấp và chiến tranh khu vực, và theo đó chế độ sẽ tan vỡ (các điểm nóng: Lào, biên giới và vùng trung du miền Bắc, Cao Nguyên miền Trung, vùng biển Đông).

3. Lượng Định Tình Hình:

(1) Rất khó xẩy ra trường hợp (1) vì: a) đảng CSVN có quá trình hình thành và tranh đấu khác xa các đảng CS ở Đông Âu; b) lãnh đạo cộng sản Việt Nam thiếu tầm nhìn và bản lãnh; c) các thành phần đối kháng còn yếu;

(2) Trường hợp (2) dễ xẩy ra nhất nhưng nếu không có các yếu tố tác động và gây áp lực mạnh sẽ không thể tạo được điều kiện để diễn biến hòa bình mà chỉ gây trở ngại cho chính tự do kinh doanh, và do đó sẽ lại dẫn tới bế tắc mới trầm trọng hơn.

(3) Trường hợp (3) và (5) đã và đang xẩy ra. Trường hợp (4) luôn âm ỉ, nhưng nhờ sự hỗ trợ quốc tế và sự can thiệp còn mạnh mẽ của chính quyền vào hoạt động kinh tế nên có thể ngăn chặn được (như trong cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu vừa qua), nhưng dù không bùng nổ cũng không giải quyết được bế tắc. Trường hợp (6) hiện khó xảy ra vì khả năng kiểm soát trong nội bộ đảng CS còn mạnh, trừ khi có những biến động khác (như 4, 5, 7) làm tê liệt khả năng này. Truờng hợp (7) vượt khỏi phạm vi Việt Nam và tuy quốc tế đang cố gắng ngăn chặn nhưng nguy cơ tiềm ẩn rất lớn, cần dự trù có thể xẩy ra.

4. 5 biến số tác động vào tình hình VN:

(1) Nội bộ ban lãnh đạo đảng CS: có truyền thống dung hòa, tương nhượng, nên thường không đưa ra được các quyết định tích cực có lợi cho tiền đồ đất nước. Vì thế không có khả năng giải quyết vấn đề VN một cách triệt để và bền vững;

(2) Áp lực quốc tế: xu thế toàn cầu hóa và áp lực của WTO, World Bank, IMF, UN + Mỹ, EU, ASEAN (nhất là Mỹ);

(3) Trung Quốc: chỗ dựa mong manh mà thế lực không ngừng bành trướng;

(4) Dân chúng : bất mãn và đòi hỏi ngày càng dâng cao và công khai (kể cả đảng viên, cán bộ) được tăng cường sức mạnh nhờ kinh tế thị trường, và mở cửa với quốc tế;

(5) Cộng đồng người Việt hải ngoại: tiếp tục duy trì một VN hải ngoại đối kháng chế độ cộng sản, đang tích cực chuyển đổi cho phù hợp tình hình mới. Nếu có được những sáng kiến hoạt động thích hợp, phối hợp và vận dụng được thế mạnh tài chánh, môi trường tự do giao lưu thông tin, văn hóa, tư tưởng, và dư luận quốc tế, sẽ tác động ngày càng có hiệu quả hơn và trực tiếp hơn vào tình hình trong nước trong thời gian tới.

5. Nhận định đúc kết: Do tính chất phức tạp đó, kịch bản “Dân Chủ Việt Nam” có thể là một kịch bản tổng hợp đa yếu tố, bao gồm nhiều diễn biến khác nhau chứa dựng trong tất cả 6 trường hợp, trừ trường hợp (1). Ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không bao giờ muốn dân chủ hóa đất nước mà vẫn chỉ muốn "đổi mới” để duy trì độc quyền chính trị và văn hóa. Do đó, không thể thụ động trông đợi ở giải pháp cộng sản (do đảng cộng sản chủ động) và giải pháp "diễn biến hòa bình" (do Mỹ và quốc tế thúc đẩy), dù cả hai biện pháp này đang và sẽ tiếp tục tạo các điều kiện và cơ hội ngày càng thuận lợi hơn cho cuộc vận động của chúng ta.

Việc ký kết Thương Ước Mỹ-Việt và chuyến viếng thăm Việt Nam của ông Clinton đánh dấu giai đoạn Mỹ đặt chân trở lại Việt Nam. Từ 2001 trở đi là giai đoạn Mỹ vận dụng chỗ đứng ngay bên trong Việt Nam để chuyển hóa Việt Nam bằng phương pháp diễn biến hòa bình. Tuy nhiên Mỹ có mục tiêu chiến lược và lộ trình làm việc phù hợp vị thế siêu cường và quyền lợi riêng của họ. Mức độ và tốc độ chuyển hóa VN của họ có thể chậm hơn, và tùy thuộc nhiều vào quyền lợi và chiến lược toàn cầu và khu vực của họ. Hơn nữa, những người dân chủ Việt Nam, cả trong nước lẫn hải ngoại, thường ở vị thế thuận lợi hơn để tác động trực tiếp vào nhiều yếu tố thuần túy Việt Nam mà người Mỹ không có đủ điều kiện để làm được. Do đó, chúng ta phải chủ động và tích cực vận dụng cơ hội mới đang mở ra để tạo các điều kiện cần thiết nhanh chóng đẩy tình hình tới chỗ đòi hỏi phải có một giải pháp dân chủ cho VN. Đồng thời vì tình hình phức tạp, nhiều biến số, bế tắc VN hiện nay không thể giải quyết bằng một phương thức đơn lẻ, mà cần một tầm nhìn xa rộng và một phương thức toàn bộ, có phân định ưu tiên theo từng giai đoạn, từng lãnh vực và từng mục tiêu cụ thể. Tầm nhìn đã được trình bày trong Phần I. Phần này trình bày tổng cương về phương thức và lộ trình vận động dân chủ cho Việt Nam trong thời gian tới.

B. Sách Lược Tổng Thể :

Tổng Quan: Thế, Lực Và Thời Cơ

(a) Thay đổi thế và lực: trước và sau 1975, nhất là sau 1990:

Trước 1975: cạnh tranh hủy diệt bằng bom đạn, chiếm đóng, tiêu diệt

Sau 1975, nhất là sau 1990: cạnh tranh tự do, cùng tồn tại, bằng kinh tế, khoa học kỹ thuật, kiến thức

(b) Các yếu tố mới tác động vào tình hình Việt Nam:

diễn biến về kinh tế, văn hóa giáo dục, thông tin, chính trị ở trong nước, trong khu vực và thế giới;

nội bộ đảng CSVN, biến chuyển trong xã hội, hoạt động của thành phần đòi tự do dân chủ;

phản ứng của ban lãnh đạo đảng và nhà nước đối với những áp lực và sự trợ giúp quốc tế.

(c) Thế và lực của phe dân chủ:

Thế: dân tộc – dân chúng – thời đại

Lực: theo thế hệ: chủ lực (trung niên), trợ lực (cao niên), chuẩn lực (trẻ); theo trong-ngoài: chủ động (trong nước), vận động (hải ngoại), tác động (quốc tế)

(d) Chuyển thế thành lực: Ba giai đoạn tạo và vận dụng thời cơ để chuyển thế thành lực.

(1) Tạo tư trào mới ở hải ngoại, với tầm nhìn Viêt Nam mới, quan điểm và lộ trình dân chủ toàn diện. Vận dụng cơ hội mới để chuyển tư trào vào trong nước.

(2) Tạo tư trào mới ở trong nước, kết hợp với hải ngoại và quốc tế thành tư trào chung.

Chuyển tư trào thành lực ở trong nước và hải ngoại.

II. Nội Dung Sách Lược Tổng Thể: Bao gồm ba khía cạnh là toàn dân, toàn diện và toàn cầu, nhằm xây dựng trận tuyến Quốc Dân Việt đối trọng với tầng lớp đang cầm quyền.

1. Toàn Dân:

(a). Toàn dân bao gồm toàn thể người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại, không phân biệt vì bất cứ lý do gì, không thuộc tầng lớp lãnh đạo đương thời, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động tư nhân đa dạng trong cả ba lãnh vực kinh tế thương mại, văn hóa giáo dục, và chính trị xã hội.

(b). Hòa nhập quần chúng hải ngoại vào quần chúng trong nước thông qua các lãnh vực hoạt đông tư nhân và tổ chức nằm ngoài chính quyền, không chịu sự chi phối của tầng lớp lãnh đạo. Đẩy mạnh các hoạt động thông lưu trong-ngoài toàn diện trong tầng lớp quần chúng thầm lặng, mở bung cánh cửa Việt Nam ra thế giới, để hỗ trợ việc hình thành giới tuyến mới ở trong nước (giữa quần chúng Việt với ban lãnh đạo đảng CSVN). Đồng thời tạo điều kiện và môi trường ra đời một Quốc Dân Việt mới không biên giới trong-ngoài, làm nền tảng cho việc xây dựng một xã hội dân sự và dân bản Việt, một nước Việt mới, hòa nhập Việt Nam vào xu thế chung của nhân loại và thời đại.

(c). Tạo trận tuyến giữa toàn dân Việt làm đối trọng với ban lãnh đạo cộng sản. Giúp tăng cường sức mạnh của toàn dân, xói mòn và làm suy yếu sức mạnh của giới lãnh đạo CS. Tách và cô lập ban lãnh đạo ra khỏi đại đa số đảng viên, ra khỏi toàn thể quần chúng, và dư luận quốc tế. Từ đó chủ động tạo hoặc vận dụng tình thế tạo áp lực và đột biến chính trị để nhanh chóng ổn định xã hội, thống nhất dân tộc và xây dựng chế độ dân chủ pháp trị.

2. Toàn Diện: Xây dựng tầng lớp Quốc Dân Việt thông qua cả ba lãnh vực: Văn hóa tự do, Kinh tế thị trường và Chính trị dân chủ.

(a) Văn Hóa Giáo Dục và Thông Tin Tự Do: Lãnh vực Văn hóa bao gồm các hoạt động văn học nghệ thuật, thông tin sách báo, giáo dục, nghiên cứu học thuật duc, tôn giáo. Chủ động thúc đẩy, hỗ trợ và tổ chức các hoạt động văn hóa và giáo dục tư nhân (đào tạo, trao đổi học sinh, sinh viên, trí thức, mở đại học tư...), các chương trình văn hóa, thông tin, sách báo văn học nghệ thuật tư nhân (chú trọng phát triển hệ thống truyền thông Internet ở trong nước, và từ hải ngoại về trong nước, nhất là các chương trình giáo dục, văn học nghệ thuật, thông tin, mở rộng kiến thức...). Giúp tăng cường sức mạnh của các tổ chức và hoạt động tôn giáo độc lập không chịu sự chi phối của đảng CSVN.

(b) Kinh Tế Thiï Trường Xã Hội: Hỗ trợ phát triển kinh tế thị trường xã hội, và thương mại tự do. Chủ động thúc đẩy, hỗ trợ và tổ chức các hoạt động thương mại, đầu tư tư nhân hai chiều giữa hải ngoại và trong nước, nhằm tăng cướng sức mạnh của kinh tế tư nhân ở trong nước, làm suy yếu kinh tế quốc doanh. Thúc đẩy thay đổi hệ thống luật pháp để bảo đảm sự phát tiển bền vững và nhanh chóng thành phần kinh tế tư và nền kinh tế thị trường.

(c) Chính Trị Dân Chủ Pháp trị và Toàn Dân:

-- Hỗ trợ, tạo điều kiện hình thành xã hội dân sự (công dân, dân bản) ở trong nước qua các tổ chức và hoạt động tư nhân ngoài sự chi phối của chính quyền, ở trong nước, hoặc từ hải ngoại về trong nước (cứu trợ xã hội, từ thiện, thanh thiếu niên, y tế cộng đồng…

-- Thực hiện các cuộc vận động chính trị ở trong nước(từ dân sinh, dân quyền sang nhân quyền, dân chủ), và hải ngoại (kết hợp khối dân tộc và dân chúng trong ngoài nước để tiến lên xây dựng dân chủ và phát triển), từ ngấm ngầm tới bán công khai và công khai, trong mọi tầng lớp xã hội, mọi cá nhân và tổ chức, cơ sở xã hội.

-- Tạo môi trường, cơ hội và điều kiện cho các tổ chức chính trị xuất hiện công khai, trực diện với ban lãnh đạo ĐCS ở trong nước vào thời điểm thích hợp.

-- Chuẩn bị đối phó với mọi hình thái biến động xã hội, và bất ổn định trong nước cũng như khu vực. Vận dụng được những mặt tích cực, để vừa hạn chế được các mặt tiêu cực của những biến cố đó, tháo gỡ các yếu tố cản trở tiến trình dân chủ, vừa đẩy nhanh tiến trình dân chủ.

-- Chuẩn bị các điều kiện, môi trường, nhân lực để đoàn kết dân tộc và ổn định tình thế, bảo đảm an sinh cho toàn dân và an ninh cho quốc gia, và thiết lập chế độ dân chủ pháp trị.

3. Toàn Cầu:

(a) Vận động hải ngoại và quốc tế, đặc biệt trong 4 khu vực có đông người Việt định cư: Úc, Âu (Tây và Đông Âu), Canada, Mỹ, và cả Á châu (Nhật, Nam Hàn, Thái Lan). Hội nhập cuộc vận động toàn dân và toàn diện của chúng ta vào bối cảnh và chuyển biến quốc tế. Đồng thời vận dụng lộ trình và kế hoạch đối ngoại của các chính phủ, đặc biệt là Mỹ, đối với VN và khu vực ĐNA, Á Châu-TBD.

(b) Ba mục tiêu quốc tế vận:

1/ Làm nổi bật trước công luận và diễn đàn quốc tế ba tính chất sau đây của nhà cầm quyền VN hiện nay: (a) trái đạo lư (vi phạm nhân quyền); (b) bất hợp pháp (luật pháp không công minh); và (c) không chính thống (không có bầu cử tự do).

2/ Tạo được thế đứng của những người dân chủ trước công luận quốc tế.

3/ Vận động quốc tế và các chính phủ dân chủ ủng hộ giải pháp dân chủ cho Việt Nam, và hỗ trợ tíến trình thực hiện giải pháp dân chủ do những người dân chủ trong và ngoài nước đưa ra.

Tổng Quát Về Phương Thức Vận Động

1. Những gợi ý về phương thức:

(a) Giao lưu giữa người dân trong nước và hải ngoại ngày càng dễ dàng và mở rộng hơn; tạo môi trường thuận lợi hơn cho các cuộc vận động tư tưởng và chính trị ở trong nước, và cho việc hình thành khối quốc dân Việt độc lập và tách biệt khỏi tập đoàn lãnh đạo;

(b) Môi trường hải ngoại thuận lợi hơn cho đường hướng hoạt động mới;

(c) Sức ép quốc tế trong các lãnh vực ngoài lãnh vực kinh tế, thương mại sẽ tăng cường hơn;

(d) Yếu tố bất ngờ: cần lưu ý theo dõi sát khả năng xẩy ra các biến cố bạo động (bạo loạn ở nông thôn, miền núi; bạo động thành thị; đảo chính; bất ổn định khu vực…).

2. Các phương thức sử dụng:

(a) Tĩnh Hội (Retreat): giữa những người cùng chung chí hướng vì một nước Việt Nam Tự Do. Retreat từng nhóm nhỏ, mỗi tiểu bang hay từng nước, từng khu vực hay liên bang (Mỹ, Canada, Âu Châu, Úc...), toàn cầu.

(b) Truyền thông: Cả hai loại: điện tử và thông thường; quảng đại và chuyên biệt.

(c) Diễn đàn: các buổi nói chuyện, hội thảo, tiếp xúc chính trị và tư tưởng (từ thu hẹp tới mở rộng, từ chọn lọc tới quảng đại).

(d) Tập hợp nhân sự bằng nhiều hình thức và cơ cấu tổ chức đa dạng, thoáng mở, trải rộng không tập trung, thích hợp với mọi người, mọi giới, và tùy theo hoàn cảnh và công việc. Nên có cơ cấu liên lạc và phối hợp để đạt hiệu năng cao.

(e) Công việc: cần đa dạng, tùy điều kiện và hoàn cảnh, hợp sở trường và sở thích cá nhân trong cả ba lãnh vực kinh tế thương mại, văn hóa giáo dục, và chính trị xã hội.

(f) Các chiến dịch vận động quốc tế toàn diện và toàn cầu (không phải chỉ ở Mỹ). Đối tượng vận động là: truyền thông, Quốc Hội, chính quyền, các tổ chức NGO, các doanh gia, giới trí thức và đại học. Cần có những ban chuyên trách về lãnh vực này.

3. Ba Cuộc Vận Động:

(a) Vận động quốc tế: Nêu bật ba tính chất của ban lãnh đạo cộng sản hiện nay: trái đạo lư, bất hợp pháp và không chính thống. Vận động cô lập ban lãnh đạo hiện nay ra khỏi công luận quốc tế, và tiến đến quốc tế chấp nhận và giúp thực hiện tiến trình dân chủ hóa Việt Nam qua một lộ đồ dân chủ mà chúng ta sẽ đưa ra.

(b) Vận động hải ngoại: Chuẩn bị điều kiện, môi trường, tinh thần và nhân vật lực của cộng đồng hải ngoại thuận lợi cho cuộc vận động dân chủ ở trong nước. Vận động để hải ngoại đóng góp hữu hiệu vào việc giúp mở bung mọi cánh cửa VN (kinh tế, văn hóa, thông tin, giáo dục, chính trị) ra thế giới. Vận động hải ngoại trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy việc ra đời một trận tuyến Quốc Dân Việt, thông lưu trong-ngoài, thông lưu Việt Nam-thế giới. Từ trong trận tuyến này sẽ xuất hiện những lực lượng chính trị dân chủ thích hợp.

(c) Vận động trong nước: Tạo điều kiện và thúc đẩy từ bên trong, và từ ngoài vào, cho hình thành một khối Quần chúng Việt ở trong nước, tách biệt và độc lập với tập đoàn lãnh đạo đảng CS, kết hợp với hải ngoại, làm nền tảng cho việc hình thành một Việt Nam Tự Do, bất chấp và vượt qua sự chi phối của tập đoàn lãnh đạo đảng CS. Trận tuyến và môi trường chính trị xã hội đó sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho việc xuất hiện các lực lượng chính trị dân chủ ở trong nước.

Ba cuộc vận động nói trên cần được tiến hành đồng thời và toàn diện trên cả ba lãnh vực kinh tế, văn hóa và chính trị, và theo một lộ trình chung. Ngoài lộ trình chung, mỗi cuộc vận động cũng như mỗi lãnh vực cần có những lộ đồ riêng phù hợp điều kiện và tính chất riêng của mỗi cuộc vận động và mỗi lãnh vực, cũng như phù hợp mỗi công việc cụ thể trong mỗi cuộc vận động và mỗi lãnh vực đó. Việc soạn thảo các lộ trình và lộ đồ này cũng như mọi khía cạnh liên quan tới việc thực hiện cụ thể các lộ trình và lộ đồ đó không thuộc phạm vi đề cương này. Những người cùng chia sẻ tầm nhìn, sách lược và phương thức vận động dân chủ trình bầy trong đề cương này sẽ cùng nhau soạn thảo và thực hiện các lộ trình và lộ đồ đó.

____________________________________________________

(Tài liệu này đã được soạn thảo và phổ biến đợt đầu, tháng 10 năm 2000. Tu chỉnh và phổ biến đợt hai tháng 6/2001. Sau đó đã được thảo luận tại nhiều diễn đàn khác nhau ở hải ngoại và trong nước)