GIAI  ĐOẠN  ĐẤU  TRANH 
HIỆN  NAY

Có một điều mà tôi tin rằng tất cả người Việt hải ngoại dễ dàng đạt được đồng thuận. Đó là mục tiêu đấu tranh. Chúng ta đều đồng ư rằng phải giải thể chế độ độc tài cộng sản hiện nay và xây dựng chế độ tự do dân chủ. Chúng ta đều tin rằng không có tự do dân chủ đất nước ta không thể phát triển được. Tuy nhiên khi đi vào hành động cụ thể chúng ta có thể có nhiều dị biệt. Dị biệt về kế hoạch, về phương thức và về cả kỹ thuật hoạt động nữa. Và nhất là dị biệt về tổ chức.

Những dị biệt này theo tôi không những là đương nhiên mà c̣n cần thiết. Đương nhiên v́ mỗi con người mỗi khác nhau, v́ xă hội vốn mang tính đa nguyên, đa dạng, được kết hợp bởi nhiều cá nhân, nhiều thành phần xă hội khác nhau. Chúng ta muốn xây dựng một xă hội Người không phải một xă hội thực vật hay động vật. Do đó chúng ta phải chấp nhận và tôn trọng những dị biệt. Nếu không thế chúng ta sẽ phản lại chính lư tưởng của chúng ta, sẽ xây dựng những ǵ mà chính chúng ta đang muốn phá bỏ. 

Dị biệt c̣n cần thiết. Cần thiết trước hết chính v́ xă hội vốn đa dạng, đ̣i hỏi nhiều h́nh thái, nhiều phương thức hoạt động khác nhau, mỗi h́nh thái, mỗi phương thức thích hợp và đạt hiệu quả với mỗi tầng lớp, mỗi nhóm người khác nhau trong xă hội. Xă hội chỉ phát triển được khi mỗi người, mỗi nhóm người, mỗi địa phương, mỗi ngành nghề đều phải có cơ hội và điều kiện để phát huy hết năng lực và sở thích đặc thù riêng của ḿnh. B́nh đẳng cơ hội do đó là điều kiện tiên quyết để có được b́nh đẳng nghĩa vụ và b́nh đẳng quyền lợi. Không thể có hai b́nh đẳng này trong một chế độ độc quyền đặc lợi, một chế độ phân chia giai cấp và kỳ thị giai cấp, dù là kỳ thị vô sản hay kỳ thị tư sản. Không một cá nhân nào, một đoàn thể nào, dù mạnh thế nào, dù giỏi thế nào cũng không thể được độc quyền hoạt động, độc quyền chân lư, được nhân danh bất cứ điều ǵ sử dụng sức mạnh và sự tài giỏi của ḿnh để trấn áp những người khác ư kiến, khác hoạt động với ḿnh. Tôn trọng những dị biệt nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người đều có thể tham gia vào công việc chung, nhờ đó giúp mở rộng cánh cửa dẫn đến thành công v́ nếu người này, nhóm này thất bại th́ vẫn c̣n có người khác, nhóm khác thành công, tất nhiên thất bại hay thành công trong việc đạt mục tiêu chung.

Nếu chúng ta không chấp nhận và tôn trọng dị biệt th́ hậu quả đầu tiên là tạo ra mâu thuẫn dẫn tới tương tranh và hỗn loạn. Mâu thuẫn và hỗn loạn không những triệt tiêu các điều kiện và môi trường để tự do và dân chủ tồn tại mà c̣n làm tan ră chính xă hội. Như thế chúng ta có hai nhu cầu. Một là chấp nhận và tôn trọng dị biệt; hai là ngăn chặn mâu thuẫn và hỗn loạn. Thực ra phân tích kỹ chúng ta thấy hai nhu cầu này là hai mặt của một thực tại, là nhân quả lẫn nhau. Tôn trọng dị biệt cho ta nhiều cơ may và khả năng để ngăn chặn mâu thuẫn và hỗn loạn. Ngược lại, mâu thuẫn và hỗn loạn xẩy ra v́ một cá nhân, một nhóm người này muốn trấn áp, muốn tiêu diệt cá nhân khác, nhóm khác.

Tuy nhiên tôn trọng dị biệt không đương nhiên dẫn đến tiến bộ và ổn định. Cần phải có cạnh tranh, cạnh tranh thúc đẩy tiến bộ. Nhưng cạnh tranh hủy diệt theo luật mạnh được yếu thua lại triệt tiêu chính sự cạnh tranh v́ dẫn tới độc quyền, và do đó tới thoái hóa và diệt vong. Như thế vấn đề của chúng ta có hai mặt. Một mặt phải bảo đảm duy tŕ được sự cạnh tranh tự do giữa các cá nhân và các nhóm khác nhau, mặt khác cần tạo được một môi trường hoạt động có phân công và hợp tác giữa những cá nhân và các nhóm khác nhau. 

Nhưng tất cả những điều đó chỉ thực hiện được nếu chúng ta đồng thuận về một điểm chiến lược quan trọng. Tôi xin tŕnh bầy điểm chiến lược quan trọng này.

Nhiều người cho rằng cộng đồng người Việt hải ngoại quá chia rẽ và mâu thuẫn khiến chúng ta chưa vận dụng hết được thế và lực trong cuộc đấu tranh hiện nay. Tôi nghĩ ngược lại. Tôi cho rằng chính v́ chúng ta chưa vận dụng được thế và lực của chúng ta nên chúng ta mới mâu thuẫn và chia rẽ. Nhưng để vận dụng được thế và lực của ta, điểm tiên quyết là chúng ta phải nhận rơ được Ta hiện nay là ai, gồm những ai; đâu là Bạn, và đâu là Địch. Từ đó nh́n thấy cái mạnh và cái yếu của Ta, của Bạn, cái mạnh và cái yếu của Địch.

Tôi xin gợi ư một số nhận xét liên quan đến điểm chiến lược này. Lịch sử đất nước ta trong thời gian hơn 50 năm trở lại đây có thể chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn chống Pháp đô hộ. Trong giai đoạn này lúc đầu sự phân định Ta, Bạn và Địch khá rơ ràng. Ta là lực lượng dân tộc chống lại sự đô hộ của người Pháp, giành lại độc lập cho đất nước. Bạn là bất cứ lực lượng nào giúp ta tranh đ̣i được độc lập. Địch là chính quyền thống trị thực dân Pháp và quân phiệt Nhật. Nếu cuộc kháng chiến chống Pháp không bị đảng cộng sản giành độc quyền lănh đạo, tiêu diệt các lực lượng yêu nước không chấp nhận cộng sản, th́ việc phân định Bạn Địch cũng vẫn rơ ràng. Và có lẽ vận mệnh dân tộc đă đổi khác.

Nhưng từ 1950, nhất là từ 1954 trở đi, những người cộng sản đă tiêu diệt những người quốc gia để dành độc quyền kháng chiến, trói buộc vận mệnh dân tộc vào với phong trào đệ tam quốc tế cộng sản. Họ đă lợi dụng chính nghĩa giải phóng dân tộc để phát triển thế lực của đảng cộng sản và của đệ tam quốc tế cộng sản. Từ đó họ đă quốc tế hóa cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc lập, gắn cuộc kháng chiến vào cuộc xung đột giữa hai phe cộng sản và tư bản quốc tế, đẩy những người quốc gia yêu nước thành kẻ thù địch của họ.

Địch và Bạn từ đó lẫn lộn. Người dân chưa thật sự sống dưới chế độ cộng sản, chưa hiểu rơ chế dộ dân chủ tự do, lại bị ḱm kẹp bởi đảng trị và công an trị, nên đă mơ hồ Địch Bạn. Những người quốc gia dân tộc ở miền Nam bị kẹt trong chiến tranh, một cuộc chiến rất bất công, người bị tấn công chỉ được quyền chống đỡ chứ không được tấn công. Họ cũng bị kẹt trong thế tương tranh quốc tế, trong đó v́ nặng t́nh dân tộc và không thể chấp nhận cộng sản, đă bất đắc dĩ phải “gá nghĩa” với những đồng minh quốc tế của ḿnh. Từ đó việc phân định Bạn Địch cũng không thể rơ ràng được.

Ta là ai? Là người dân đang bị bom đạn, đói khổ đầy đọa? Là những người Việt yêu nước, là lực lượng dân tộc, đang vô vọng t́m cách tách ra khỏi thế bị động và bị lệ thuộc vào các thế lực quốc tế, t́m cách lấy lại thế tự chủ của ḿnh? Hay chỉ là những chính trị gia sa lông cơ hội? C̣n Bạn có phải là những người đang cung cấp viện trợ, cung cấp đạn dược, đem cả nửa triệu quân sang đóng ở nước ta hay không? Nếu là bạn sao lại lật đổ và giết chết những người mà chính họ đă dựng lên và ủng hộ để lập pḥng tuyến “chống cộng”? Sao lại bỏ rơi cả miền Nam, cả triệu quân đội, cả chục triệu người dân vô tội vào tay cộng sản? Và Địch là ai? Là tất cả hàng triệu người Việt đang chịu khổ cực, chịu gian hiểm trong rừng sâu nước độc để chiến đấu cho một "chiêu bài" giả dối mà họ vẫn nhận lầm là lư tưởng? Hay là những đảng viên cộng sản đang hăng say khích động và tổ chức quần chúng, v́ chính bản thân họ cũng đang bị mê hoặc và đang trở thành nạn nhân một cách tự nguyện? Hay chỉ là đám thiểu số thống trị đang ngồi ở Hà Nội biến đất nước thành tiền đồn cho quốc tế vô sản, đem cả triệu thanh niên đi “đốt cháy Trường Sơn” để mưu đồ giấc mộng “tiểu bá quyền”?  

Giai đoạn chánh tà lẫn lộn, Bạn Địch khó phân đó chấm dứt khi cộng sản tràn vào xâm chiếm miền Nam. Biến cố 30 tháng 4 1975 gây ra bao tang thương máu lệ cho hàng triệu người dân Miền Nam. Nhưng cũng từ ngày hôm ấy dân tộc chúng ta bước vào một giai đoạn mới. Giai đoạn mà dân tộc chúng ta có cơ hội lấy lại sự tự chủ của ḿnh, thoát ra khỏi cả sự trói buộc của đệ tam quốc tế cộng sản, lẫn thế kẹt của cuộc tương tranh tả hữu quốc tế. Ba mươi tháng tư năm 1975 đă bóc trần tất cả những chiêu bài giả dối của cộng sản Việt Nam, nhất là hai chiêu bài giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Chiêu bài giải phóng dân tộc bị lật tẩy bằng cuộc chiếm đóng Cam Bốt của CSVN và cuộc xâm lăng Afghanistan của hồng quân Liên Xô. Chiêu bài giải phóng giai cấp bị tan vỡ v́ thất bại không xây dựng được xă hội ấm no và công bằng, phải chấp nhận nền kinh tế tư bản.

Hơn hai mươi năm đă trôi qua kể từ ngày ấy. Chế độ cộng sản tuy vẫn c̣n, nhưng cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ không bao giờ ngưng nghỉ. Và càng ngày lằn ranh Bạn Địch càng rơ rệt. Nếu trước đây những người quốc gia dân tộc bị đẩy vào thế bị động, thế thủ, th́ ngày nay càng ngày những người cộng sản càng bị đẩy vào thế bị động thế thủ. Một trận tuyến mới đă rơ ràng. Một bên là độc tài đảng trị, tham nhũng và lạc hậu; một bên là tự do dân chủ, công bằng và tiến bộ. Một bên là dân tộc, dân chủ và tiến bộ; một bên là cộng sản, độc tài và chậm tiến. Thế và lực đang nghiêng về trận tuyến của những người quốc gia dân tộc, cả ở trong nước lẫn ở hải ngoại, cả quốc tế lẫn khu vực.

Cuộc đấu tranh hiện nay đă bước vào giai đoạn mới, giai đoạn mà tôi tin rằng sẽ là giai đoạn cuối cùng, giai đoạn giải thể chế độ cộng sản hiện nay để mở đường cho dân tộc bước vào thời kỳ phục hưng. Để hiểu rơ được giai đoạn này chúng ta cần phân tích về chính sách của quốc tế đối với Việt Nam, và về diễn tiến của phong trào đấu tranh một năm qua.

Đối với quốc tế cũng như riêng đối với Mỹ th́ rơ ràng là kể từ đầu thập niên 1990 tới nay họ đă chuyển từ chính sách bao vây cô lập sang xâm nhập để thay đổi. Sở dĩ họ có thể chuyển sang được chính sách này là nhờ sự sụp đổ của khối cộng sản quốc tế và sự rạn nứt giữa Việt Nam và Trung quốc khiến cho Hà Nội không c̣n chỗ dựa nào khác ngoài chính Mỹ, Âu Châu và Nhật Bản. Họ cũng quyết định chọn lựa chính sách này v́ vấn đề lớn của thế giới thời kỳ sau Liên Xô là Trung quốc. Mà để giải quyết vấn đề Trung cộng cần tạo được cái thế “nội công ngoại kích” như với Liên Xô trước đây nhưng với những phương thức thích hợp. Nội công bằng cách tạo ra các điều kiện kinh tế, xă hội bên trong Trung quốc làm phát sinh nhu cầu đ̣i thay đổi từ xă hội và quần chúng, và ngay từ bên trong đảng Cộng Sản. Ngoại kích bằng cách tạo ra một môi trường văn hóa, kinh tế và chính trị, trên thế giới cũng như trong khu vực, phá vỡ các chính sách bá quyền, đóng cơi và độc đoán. Trong cái thế mới đó đối với Trung quốc, Việt Nam trở thành cái chốt cần thiết giữa Trung quốc và ASEAN. Mỹ, Âu Châu và Nhật Bản phải vào ngồi ở Hà Nội và ở Sài G̣n trước khi Trung quốc trở lại tạo được thế liên kết với Việt Nam cộng sản. Thỏa ước thương mại Mỹ-Việt là một mưu đồ cắm chốt của Mỹ (và cả Âu Châu, Nhật Bản) vào Hà Nội và vào toàn cơi Việt Nam. Và chính ở đó mà phe bảo thủ trong ban lănh đạo Hà Nội lo ngại. Vị thế của cả chế độ cũng như riêng của đảng CSVN sẽ ra sao khi cái chốt đă cắm được vững chắc trên toàn lănh thổ Việt Nam?

Từ 1990, Mỹ và quốc tế đă và đang áp dụng chính sách giao hảo với Hà Nội để xâm nhập, vừa xâm nhập vừa áp lực, áp lực để xâm nhập sâu hơn, và xâm nhập để đ̣i hỏi thay đổi. Đầu tiên đi từ các lănh vực tài chánh (viện trợ, cho vay...) sang kinh tế, thương mại. Rồi tiến đến luật pháp, hành chánh công quyền, ngân sách quốc gia. Và tới các lănh vực tế nhị hơn như văn hóa giáo dục, thông tin, nhân quyền, tôn giáo, tự do giao thương hai chiều. Để rồi cuối cùng các vấn đề chính trị sẽ tự động phát sinh liên quan cả đến đối nội lẫn đối ngoại.

Trong thực tế th́ những vấn đề chính trị phát sinh ngay từ khi chính sách xâm nhập của Mỹ và quốc tế bắt đầu. Ban lănh đạo cộng sản Việt Nam luôn luôn phải điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại để thích ứng với cường độ và tầm vóc của việc giao tiếp với quốc tế. Từ hoàn toàn đóng cửa với thế giới tự do, kết chặt với quốc tế cộng sản, đến phải dần dần hội nhập quốc tế không cộng sản, gia nhập ASEAN, gia nhập Hội Đồng Kinh Tế Á Châu-Thái B́nh Dương (APEC) và đang xin gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Từ không chấp nhận trả nợ Ngân Hàng Thế Giới của Việt Nam Cộng Ḥa đến phải trả nợ để được vay tiếp và chấp nhận những đ̣i hỏi cải tổ tài chánh ngân hàng. Hiện đang chịu áp lực đ̣i công khai hóa và cải tổ ngân sách nhà nước song song với việc cải tổ hành chánh công quyền mà hậu quả nguy hiểm cho chế độ là tách đảng ra khỏi chính quyền. Từ không chấp nhận các quan điểm và đ̣i hỏi về nhân quyền của quốc tế, tới phải thả một số tù nhân chính trị và tôn giáo được quốc tế can thiệp và cho phép các phái đoàn nhân quyền và tôn giáo của Liên Hiệp Quốc vào điều tra. Từ thẳng tay đàn áp mọi chống đối, như bắn thẳng vào đoàn biểu t́nh của giáo dân công giáo tại Sài g̣n năm 1975, tới chỉ giam giữ tại nhà và sách nhiễu những người đối kháng. Từ cố gắng triệt tiêu các tổ chức tôn giáo ngoài quốc doanh như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Ḥa Hảo đến phải trả tự do cho những nhà lănh đạo tôn giáo bị bắt giữ và cho phép Ḥa Hảo hoạt động trở lại dù vẫn cố chi phối bằng một ban lănh đạo quốc doanh. Ngày nay, dù chế độ có muốn hay không, công nhận hay không, th́ rơ ràng là đă xuất hiện công khai những thành phần chống đối ngay trong nước.

Cho đến nay cuộc đấu tranh ở trong nước đă đạt được những thành quả đáng kể. Trước hết, thành phần tham gia cuộc đấu tranh đă được mở rộng. Từ 1975 tới 1990 phạm vi hoạt động của những người chống đối chỉ hạn chế ở miền Nam, kể cả Lực Lượng Cựu Kháng Chiến của ông Nguyễn Hộ. Ngày nay thành phần chống đối đă được mở rộng bao gồm cả Nam lẫn Bắc, cả quốc gia lẫn cựu cộng sản và cộng sản, cả trí thức, văn nghệ sĩ, tu sĩ lẫn nông dân, cả thành thị lẫn nông thôn. Mặc dù chưa kết hợp thành tổ chức được v́ chưa đủ điều kiện nhưng có thể nói, cùng với người Việt hải ngoại, hầu hết các thành phần xă hội đă có đại biểu tham gia cuộc đấu tranh chung. C̣n hai điểm yếu chúng ta cần cố gắng khắc phục. Đó là: thành phần trẻ chưa thật sự nhập cuộc, cả ở trong nước lẫn hải ngoại, đặc biệt là sinh viên các trường đại học; và chưa kếp hợp được giữa trong nước với nhau, giữa ngoài nước với nhau và giữa ngoài nước với trong nước.

Nếu thành phần đấu tranh đang được mở rộng th́ lănh vực đấu tranh cũng đă được mở rộng và cụ thể hơn. Đối với quần chúng nông dân và lao động th́ đây là cuộc đấu tranh chống lại tham ô nhũng lạm quyền thế ức hiếp nhân dân. Đối với các trí thức, nhà văn nhà báo th́ mục tiêu đấu tranh là đ̣i tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và báo chí. Đối với các tu sĩ th́ đó là cuộc đấu tranh đ̣i tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng chống lại các quan điểm vô thần và sự can thiệp của nhà cầm quyền vào các hoạt động của các giáo hội. Cũng đă bắt đầu có những đ̣i hỏi được quyền tự do lập hội đoàn và tự do hội họp. Thanh niên sinh viên chưa nhập cuộc về mặt chính trị, nhưng cũng đă bắt đầu xuất hiện những cuộc xuống đường quấy phá và xung đột với cảnh sát tại các thành phố lớn mỗi khi có cơ hội.

Ba lănh vực đấu tranh hiện đă xuất hiện và cần được đẩy mạnh hơn nữa. Đó là quyền dân sinh của quảng đại quần chúng, quyền tự do ngôn luận, và quyền tự do tín ngưỡng. Đây là những quyền căn bản của con người mà không một chính quyền nào có thể ngăn cấm. Đ̣i hỏi những quyền này chắc chắn được quốc tế ủng hộ, và chính những đ̣i hỏi này đang tạo ra những áp lực ngày càng mạnh đẩy Hà Nội vào thế thủ và trong tương lai không xa sẽ làm bung vỡ chế độ.

Ngoài thành phần và lănh vực đấu tranh, phương thức đấu tranh cũng đă được mở rộng. Kể từ sau 1990 cuộc đấu tranh chống lại chế độ cộng sản đă chuyển từ vũ trang bạo loạn để lật đổ sang đấu tranh chính trị. Ở hải ngoại th́ tạo áp lực từ bên ngoài và từ quốc tế đ̣i hỏi cộng sản Việt Nam phải thay đổi, tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân. Trong nước th́ các hoạt động chống đối chuyển từ bí mật sang bán công khai và đang chuyển sang công khai. Tất nhiên, ở Hà Nội, ngay sau năm 1954 đă xuất hiện những hoạt động chống đối công khai, điển h́nh là Nhân Văn Giai Phẩm. Và ngay trước 1990 lực lượng cựu kháng chiến của ông Nguyễn Hộ cũng đă hoạt động công khai ở Sài g̣n. Tuy nhiên t́nh h́nh lúc đó chưa cho phép những hoạt động này phát triển được. Cộng sản đă có thể thẳng tay đàn áp mà không bị dư luận quốc tế quan tâm và can thiệp. Hiện nay t́nh h́nh đă hoàn toàn khác hẳn. Cuộc đấu tranh đă chuyển sang công khai, và trên phạm vi toàn thế giới. Hà nội không thể che dấu các hành vi đàn áp của họ được và quốc tế cũng không thể làm ngơ trước những đàn áp đó. Cộng đồng người Việt hải ngoại đă đóng góp tích cực và có hiệu quả trong việc giúp công khai hóa cuộc đấu tranh ở trong nước trước dư luận quốc tế. 

Trước đây, khi cộng sản chưa chấp nhận kinh tế thị trường và kinh tế tư nhân, đă tồn tại một “thị trường đen” tức các hoạt động buôn bán lén lút bất chấp sự ngăn cấm của nhà nước. Ngày nay cũng đang xuất hiện một “văn hóa và chính trị đen”, các hoạt động văn hóa chính trị “ngoài luồng”, tức ngoài ṿng kiểm soát của đảng và nhà nước cộng sản. Nhờ việc quốc tế đă có mặt tại Hà Nội và nhờ sự phát triển của mạng lưới thông tin điện tử toàn cầu nền chính trị đen đang trở thành bán công khai và công khai bất chấp sự phủ nhận, cấm đoán và đàn áp của Hà Nội. Nếu trong kinh tế, v́ sự tồn tại của chế độ mà Hà Nội phải công nhận và hợp pháp hóa “thị trường đen” th́ trong chính trị hành động tương tự sẽ là tự sát. Do đó chúng ta khó thể trông mong vào sự “tự nguyện” chuyển đổi từ độc tài độc đảng sang dân chủ đa đảng của ban lănh đạo đảng cộng sản. T́nh h́nh hiện nay phải được đẩy tới đỉnh cao nhất, tới điểm nút. Đó là: ban lănh đạo cộng sản phải bị đẩy tới bờ vực của sống chết để phải dứt khoát chọn lựa giữa tồn tại trong chế độ dân chủ tự do hay tan ră trong đột biến chính trị và xă hội.

Cuộc đấu tranh hiện nay đă bước vào giai đoạn quyết liệt này, giai đoạn tạo điểm nút đó. Chúng ta cần nhận ra và vận dụng được thế và lực đang ngày càng mạnh hơn, thuận lợi hơn của Ta và của Bạn; khai thác những điểm ngày càng suy yếu hơn trong thế và lực của Địch. 

Cộng đồng người Việt hải ngoại có một điểm mạnh là không bao giờ từ bỏ ư chí và mục tiêu của cuộc đấu tranh chống lại chế độ độc tài cộng sản. Một điểm mạnh khác là chúng ta có tự do và có cơ hội và có cả phương tiện đầy đủ để đấu tranh. Nhưng chính v́ những điểm mạnh này mà chúng ta thường khó nhận ra và thông cảm được với những khó khăn và nguy hiểm của những người đang đấu tranh trực diện với chế độ cộng sản ở trong nước. Do đó tiếng nói của chúng ta chưa ḥa đồng được với tất cả các thành phần chống đối khác nhau, khởi đi từ những xuất phát điểm khác nhau, chưa giúp thúc đẩy và lan rộng được phong trào chống đối ở trong nước, nhất là trong sinh viên và giới trẻ. Một điểm yếu khác nữa là chúng ta chưa vận dụng được các cố gắng tạo thay đổi của cộng đồng quốc tế và xu thế chung của thế giới đang rất thuận lợi cho tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Tại mỗi nước nơi chúng ta đang sinh sống chúng ta cũng chưa thuyết phục được dư luận quần chúng cũng như các thành phần xă hội thông cảm và tham gia với chúng ta. Đặc biệt chúng ta c̣n bỏ ngỏ một thành phần quan trọng là giới trí thức và sinh viên trong các trường đại học, nơi mà những lư tưởng công bằng xă hội, công lư và nhân quyền dễ thu hút sự đồng t́nh nhất.

Chúng tôi cho rằng trong giai đoạn hiện nay cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Viêt Nam đang gặp nhiều thuận lợi. Riêng đối với người Việt hải ngoại, nếu khắc phục được những điểm c̣n yếu kém trên đây chúng ta sẽ đóng góp tích cực và có hiệu quả hơn cho cuộc đấu tranh ở trong nước. Chúng tôi đề nghị tất cả các tổ chức đấu tranh cũng như toàn thể cộng đồng hải ngoại tập trung nỗ lực vào hai việc chính là vận động quốc tế và hỗ trợ trong nước. Hai việc này nên được triển khai theo ba hướng:

1/ Đối với quốc tế: đấu tranh cho nhân quyền, cụ thể cho: 

a/ các quyền tự do căn bản như ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, thông tin...

b/ các quyền dân sinh như bảo đảm công ăn việc làm, y tế, giáo dục... và

c/ các quyền được bảo đảm nhân phẩm liên quan tới an sinh xă hội, luật pháp và nhà tù v.v...

2/ Đối với nhà cầm quyền Hà Nội: đ̣i hỏi các quyền dân sinh, đ̣i tôn trọng nhân phẩm của người dân, đ̣i thực thi Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và hai Công Ước về quyền dân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa, chống hà lạm quyền thế, tham nhũng và ức hiếp nhân dân.

3/ Đối với giới lănh đạo cộng sản: đ̣i hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp, trả lại cho người dân quyền tự do chọn lựa và quyết định về thể chế và người lănh đạo đất nước.

Cuộc đấu tranh của người Việt yêu nước, yêu tự do dân chủ đă bước vào giai đoạn quyết định. Giai đoạn đấu tranh công khai trực diện ở trong nước đă bắt đầu. Trong giai đoạn này chúng ta sẽ thành công nếu tập họp được mọi thành phần yêu nước kể cả những thành phần chưa thật sự tham gia như giới trẻ, để cô lập được ban lănh đạo cộng sản với toàn dân trong nước và với dư luận quốc tế.

    

(10-10-1999)

_______________________________________

(Bài đọc trên đài Tiếng Nói Việt Nam Tự Do