VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ
CHO MỘT NƯỚC VIỆT NAM TỰ  DO

Thưa quí vị và các bạn,

Trước hết tôi xin nhiệt liệt chào mừng Đại hội MLNQ lần thứ 4 và chúc cho Đại Hội thành công. Xin chào mừng quí vị và các bạn có mặt trong buổi dạ tiệc hôm nay trong đó có nhiều vị đến từ nhiều nơi trên thế giới. Sự hiện diện của quí vị làm nổi bật tính toàn cầu của cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung và cuộc vận động cho một nước Việt Nam Tự Do nói riêng.

Cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ có khoảng 3 triệu người, con số thật khiêm tốn so với 78 triệu người dân trong nước. Tuy nhiên, trải rộng trên khắp năm châu bốn bể, cộng đồng người Việt hải ngoại trong thực tế đang đại diện cho dân tộc Việt Nam đối với thế giới và nhân loại. Bằng những sinh hoạt thường ngày mang đậm nét văn hóa dân tộc, chúng ta đang nối dài và mở rộng đất nước Việt Nam ra toàn thế giới, ḥa nhập sinh hoạt của người Việt vào ḍng chảy tiến bộ của toàn thể nhân loại. Người Việt hải ngoại đang là niềm hy vọng và là cánh cửa mở ra sinh lộ tương lai cho một nước Việt tự do, văn minh và phồn thịnh. Đó là vị trí và vai tṛ quan trọng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Dù chúng ta tự đánh giá ḿnh như thế nào, t́nh trạng nghèo nàn lạc hậu của đất nước hôm nay vẫn đang thôi thúc chúng ta phải cố gắng nhiều hơn nữa để xứng đáng với vị trí và vai tṛ thực tế đó. 

Để mở đầu buổi nói chuyện hôm nay tôi xin cống hiến quí vị và các bạn hai câu chuyện sau đây. Hai tháng trước, một tổ chức có tên là The Victims of Communism Memorial Foundation (Nghĩa Hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản) thông báo cho tôi biết về việc tổ chức này sẽ trao giải thưởng thường niên năm nay cho tôi vào tháng 11 này. Đây là một tổ chức được Quốc Hội Hoa Kỳ thành lập bằng một Đạo Luật do Tổng Thống Hoa Kỳ ban hành năm 1993. Tổ chức này có hai nhiệm vụ: xây dựng một tượng đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản trên toàn thế giới, và một viện bảo tàng nạn nhân cộng sản thế giới. Theo đạo luật thành lập Nghĩa Hội này th́ cuối năm nay, 2000, tượng đài sẽ bắt đầu được xây dựng tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Tài liệu do Nghĩa Hội ấn hành nêu lên con số hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Mặc dù tổ chức này đă hoạt động từ năm 1993 tới nay nhưng h́nh như rất ít người Việt hải ngoại biết đến hoạt động của họ. Đây có thể là khuyết điểm của tổ chức này, nhưng chúng ta cũng đă bỏ lỡ một cơ hội tốt để cùng với họ nêu bật được vấn đề Việt Nam trước công luận Mỹ và quốc tế.

Có lẽ không có cộng đồng người thiểu số nào ở Hoa Kỳ có tỷ lệ nạn nhân cộng sản đông và rơ nét bằng cộng đồng người Việt. Đại đa số người Việt tới Mỹ sau năm 1975 với tư cách là những người tị nạn cộng sản. Đó là hàng trăm ngàn người di tản, hàng trăm ngàn người vượt biên, hàng trăm ngàn cựu tù nhân chính trị, cựu sĩ quan quân đội và nhân viên chính quyền quốc gia. Họ đều là nạn nhân cộng sản. Vậy mà có rất ít h́nh ảnh và số liệu của Việt Nam trong những tài liệu mà Nghĩa Hội đă phổ biến, dù Việt Nam được nêu tên như là một trong những nước có nhiều nạn nhân cộng sản. Tấm h́nh chụp người vượt biên là h́nh những người Cuba đang vượt qua sóng gió để đi t́m tự do. Bức h́nh đó không thể nào gây xúc động được bằng những bức h́nh chụp người vươt biển Việt Nam mà tôi đă thấy trong một trung tâm bảo tàng Boat People ở Ottawa, Canada, do cộng đồng người Việt bên đó giúp chính phủ Canada thực hiện. Kể cả danh từ Boat People cũng đă trở thành phổ biến trong thời kỳ có phong trào vượt biển của người Việt. Những h́nh ảnh vượt biển của người Việt đă gây xúc động cho toàn thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ. Thế mà h́nh ảnh vượt biển trong tài liệu nạn nhân cộng sản thế giới lại không phải là h́nh ảnh những Boat People Việt Nam. Tôi nói lên những nhận xét này với những người lănh đạo của Nghĩa Hội Nạn Nhân Cộng Sản và đề nghị họ quảng bá rộng răi chương tŕnh hoạt động của họ cho cộng đồng người Việt và tạo cơ hội để cộng đồng Việt Nam tham gia vào các hoạt động của Nghĩa Hội. Tôi cũng đă giới thiệu với họ những nhân vật và tổ chức của cộng đồng người Việt vùng Hoa Thịnh Đốn để họ liên lạc.

Sự việc này cho thấy rơ là chúng ta chưa kết hợp được tiềm năng rộng lớn của cộng đồng chúng ta với những nỗ lực cùng chí hướng của chính người Mỹ. Hiện nay đại đa số người Việt tại Hoa Kỳ đă là công dân Mỹ. Chúng ta có thể vừa đấu tranh với tư cách người Việt cho một nước Việt Nam dân chủ tự do, vừa có quyền, với tư cách công dân Mỹ, đ̣i hỏi chính quyền Mỹ không được đi ngược lại lư tưởng tự do dân chủ trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là với những người cầm quyền ở những nước như Việt Nam, đang vi phạm những quyền tự do căn bản của người dân.

Điều này liên quan tới một sự kiện thứ hai có tính thời sự hơn.  Như chúng ta đều biết Tổng thống Bill Clinton quyết định sẽ tới thăm Việt Nam vào tháng 11 này nhân dịp tham dự Hội Nghị APEC tại Brunei. Đây là lần đầu tiên sau chiến tranh một Tổng Thống Mỹ chính thức đến thăm Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội.  Chúng ta, những người Việt ở miền Nam, đă biết thế nào là xă hội Hoa Kỳ, là nền kinh tế thị trường tự do của Mỹ, môt nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới. Chúng ta cũng đă biết thế nào là một xă hội dân chủ, không phải chỉ thông qua các cuộc tranh cử và bầu cử tự do, mà cả trong sinh hoạt thường ngày của người dân Mỹ. Chúng ta biết được cả những ưu điểm lẫn những khuyết điểm của xă hội Mỹ. Đối với chúng ta, những người Việt hải ngoại đă sống lâu ở đây, những hiểu biết đó đă trở thành tự nhiên. Nhưng đối với đa số nhân dân trong nước, nhất là những người dân ở miền Bắc, phải sống dưới chế độ cộng sản hàng nửa thế kỷ nay, kinh tế thị trường và chính trị dân chủ thật c̣n nhiều xa lạ. Cho nên việc kư kết Hiệp Ước Thương Mại Mỹ-Việt và việc Tổng Thống Hoa Kỳ tới thăm Việt Nam chắc hẳén sẽ gây nhiều xôn xao trong dân chúng, nhất là tại các thành phố lớn ở miền Bắc như Hà Nội. Đối với người Việt hải ngoại chúng ta, chúng ta đều hiểu rất rơ rằng những sự kiện đó sẽ tác động tích cực tới t́nh h́nh nước ta, tạo thêm cơ hội cho người dân trong nước trong cuộc đấu tranh thầm lặng hiện nay của họ để giành lại quyền chủ động về kinh tế thương mại, và từ đó tăng cường thêm niềm tự tin vào tương lai ngày càng tự do hơn trên mọi lănh vực đời sống xă hội. Nhưng chúng ta đồng thời cũng hiểu rất rơ rằng ban lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam sẽ làm tất cả những ǵ họ có thể làm được để giữ độc quyền chính trị và văn hóa, ít nhất cho đến khi nào họ không c̣n có thể làm được. Để tự do kinh doanh tạo đươc biến đổi căn bản trên văn hóa và chính trị, chuyển được từ độc tài toàn trị sang dân chủ tự do, đ̣i hỏi nhiều điều kiện và nhiều thời gian. Liệu những diễn biến ngày một phức tạp hơn của t́nh h́nh khu vực, trong bối cảnh một nước Trung Hoa ngày càng mạnh lên cả về kinh tế lẫn quân sự, có cho phép diễn biến ḥa b́nh tiệm tiến từ độc tài sang dân chủ?  Đấy là chưa nói tới việc liệu chính kinh doanh tự do có thể phát triển bền vững được không trong một hệ thống xă hội c̣n độc quyền về văn hóa, thông tin và chính trị. Quan điểm của chúng ta rất rơ ràng: chúng ta ủng hộ tự do kinh doanh nhưng tự do kinh doanh không thể phát triển bền vững được trong một xă hội độc quyền, độc tài toàn trị, trong một xă hội mà bất ổn định ngày càng gia tăng cùng với ḷng bất măn của quần chúng. Và do đó chúng ta không thể ngồi im chờ đợi “cây đũa thần” tự do kinh doanh. Tự do kinh doanh tự nó không thể dẫn tới một xă hội tự do dân chủ. Ngược lại nếu không có những thay đổi căn bản trong văn hóa và chính trị, song hành với tự do kinh doanh, th́ tự do kinh doanh sớm muộn sẽ bị bế tắc, và do đó sẽ dẫn đến rối loạn xă hội và chính trị. 

Tôi luôn luôn tŕnh bầy quan điểm này trên mọi diễn đàn quốc tế mà tôi có dịp tham dự. Gần đây tôi cũng đă có cơ hội tŕnh bầy quan điểm này với Tổng Thống Bill Clinton khi được gặp ông vào tối 19 tháng 9 vừa qua nhân dịp Trung Tâm Kennedy ở Hoa Thịnh Đốn tổ chức vinh danh những nhà tranh đấu cho tự do trên khắp thế giới. Tôi đề nghị Tổng Thống hăy cho ban lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam hiểu rơ rằng Hoa Kỳ không thể tán đồng chính sách vi phạm nhân quyền và đàn áp tự do dân chủ của họ. Tôi cũng tŕnh bầy với Tổng Thống là cộng đồng người Mỹ gốc Việt ước mong nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần này, Tổng thống sẽ gửi cho nhân dân Việt Nam một thông điệp rơ ràng rằng Hoa Kỳ luôn luôn đề cao lư tưởng tự do dân chủ và nhân quyền ở mọi nơi trên thế giới. Và, tôi đề nghị quí vị hăy vận động các vị dân cử Hoa Kỳ cùng chúng ta yêu cầu Tổng Thống Clinton gửi một thông điệp rơ ràng như thế cho nhân dân Việt Nam. Chúng ta tin rằng chỉ với một thông điệp như thế th́ chuyến đi thăm Việt Nam của TT Clinton mới có ư nghĩa và mới giúp mở ra giai đoạn cuối cùng trong tiến tŕnh tự do hóa và dân chủ hóa Việt Nam, trong đó toàn dân Việt Nam sẽ giành lại được quyền chủ động trong mọi sinh hoạt xă hội, từ kinh tế thương mại tới văn hóa giáo dục, thông tin và chính trị.

Về phần chúng ta, chúng ta cần cùng nhau t́m cách vận dụng được tiềm năng dồi dào của cộng đồng người Việt hải ngoại để đẩy nhanh tiến tŕnh đó và đạt được những kết quả hữu hiệu hơn nữa trong cố gắng vận động quốc tế ủng hộ chúng ta. Theo tôi, để được hữu hiệu, cuộc vận động quốc tế của chúng ta cần phù hợp với bối cảnh thế giới và t́nh h́nh thực tế của Việt Nam.

Bối cảnh thế giới hiện nay và những thập niên tới, theo tôi, là hệ quả nối dài của những điều chỉnh chiến lược quốc tế của Hoa Kỳ bắt đầu từ những thập niên 1960, 1970 và hiện ra rơ nét vào đầu thập niên 1980. Thập niên 1960 và 1970 là hai thập niên Hoa Kỳ vừa tiếp tục ngăn chăn sự bành trướng của Cộng sản quốc tế, vừa t́m cách thoát ra khỏi t́nh trạng bế tắc của chiến lược ngăn chặn. Thập niên 1960 có hai sự kiện trọng đại ảnh hưởng sâu sắc tới tầm nh́n chiến lược của Hoa Kỳ. Đó là trận đụng độ quân sự ở biên giới giữa Liên Sô và Trung Quốc cho thấy mâu thuẫn Nga-Hoa là mâu thuẫn khó thể hàn gắn được, và việc Liên Sô đem vũ khí hạt nhân tới Cuba, tạo nguy cơ thế chiến hạt nhân làm áp lực với Hoa Kỳ. Hai sự kiện đó cộng với tinh thần thực tiễn đặc thù của người Mỹ và tầm nh́n chiến lược quốc tế xa dài đă thúc đẩy những chiến lược gia Hoa Kỳ t́m ra chiến lược mới, chiến luợc “vượt qua ngăn chặn” (beyond containment) với mục tiêu thắng được Liên Sô mà không làm nổ ra thế chiến hạt nhân hủy diệt toàn thể loài người.

Kết quả của việc áp dụng chiến lược mới đó là cục diện thế giới hoàn toàn thay đổi, từ lưỡng cực đối kháng sang đa cực hợp tác, loại trừ cộng sản quốc tế bằng cách xóa nḥa biên giới và đối kháng tư bản–cộng sản, thay thế bằng quan hệ hợp tác giầu-nghèo, hợp tác Bắc-Nam. Chúng ta hăy điểm lược qua những diễn biến quan trọng theo thứ tự thời gian trong tiến tŕnh thực thi chiến lược mới này:

-         đổ nửa triệu quân Mỹ vào miền Nam VN (1965-1968);

-         mật đàm Mỹ-Trung Quốc ở Warsaw, Ba Lan (bắt đầu từ 1967);

-         Nixon và Kissinger thăm Hoa Lục và kư Thỏa ước Thượng Hải với Trung Quốc (1972);

-         Hiệp định Ba Lê về Việt Nam (1973);

-         Cộng sản Việt Nam chiếm miền Nam Việt Nam (4/1975);

-         Hoa Kỳ phủ quyết hai đơn xin vào LHQ của hai nước VNDCCH và CHMNVN (8/1975) (New York Times, August 12, 1975, p. 1);

-         nhóm G7 chính thức ra đời (11/1975);

-         Việt Nam thống nhất dưới tên mới, CHXHCNVN (4/1976);

-         Việt Nam được nhận vào LHQ (1977);

-         Cộng sản Việt Nam xâm  lăng  Campuchia và Trung  Quốc tràn quân  qua vùng biên­ giới Việt Nam (1 và 2/1979);

-         Phong trào vượt biên ở Việt Nam và Cộng Sản Việt Nam bị thế giới cô lập (1977-1990);

-         Đông Âu biến loạn và tan vỡ (1980-1990);

-         Liên Sô sụp đổ (1991);

-         Hoa Kỳ bắt đầu tiến tŕnh trở lại Việt Nam và Á Châu (từ 1990 đến nay). Trong thập niên 1990, thập niên đầu tiên của thời kỳ hậu Liên Sô, các nước Âu Châu và Mỹ cố gắng ổn định vùng Trung Đông. Công việc này không thể thực hiện được khi c̣n Liên Sô.

Đó là những ǵ đă diễn ra trong những thập niên vừa qua. Thế giới hiện nay, vào đầu thiên niên kỷ thứ ba này, là một thế giới đang chuyển tiếp từ thời kỳ hậu Liên Sô sang thời kỳ toàn cầu hóa, với nhiều tính chất mới đáng chú ư. Đó là một thế giới ngày càng thu hẹp lại về không gian và đến gần nhau nhanh hơn về thời gian nhờ các tiến bộ trong ngành giao thông vận tải và nhất là ngành thông tin điện tử Internet. Nếu trước đây các quốc gia Âu-Mỹ phát triển nhanh được là nhờ tính di động xă hội cao (social mobility) th́ giờ đây một cộng đồng quốc tế cũng đang thành h́nh nhờ tính di động toàn cầu (global mobility). Trong bối cảnh thế giới như thế, các quốc gia đang phát triển ngày càng phải mở rộng cửa hơn để ḥa nhập vào sinh hoạt chung của cộng đồng quốc tế trong mọi lănh vực, từ kinh tế thương mại, tới thông tin, văn hóa, học thuật và chính trị. Toàn cầu hóa vừa là cơ hội vừa là thử thách cho mỗi quốc gia, và là xu thế không thể cưỡng lại được. Thế giới sẽ ngày càng trở nên một thế giơi đa văn hóa, đa chủng tộc, một thế giới của toàn thể nhân loại, của mọi dân tộc. Chúng ta đang chứng kiến viễn tượng một thế giới như thế, một nhân loại như thế, trong mọi biến động quốc tế, từ Kosovo tới Đông Timor, từ hội nghị WTO ở Seattle, tới hội nghị World Bank-IMF ở Praha, từ Khmer Đỏ tới vụ án Pinochet. Và ngay trong tuần trước, qua buổi lễ bế mạc Olympic Sydney, chúng ta đă được chứng kiến một khung cảnh xum họp đại gia đ́nh nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc, với những h́nh ảnh ḥa ái tiêu biểu như h́nh ảnh cô gái người bản địa Úc Châu châm ngọn lửa thế vận, hay h́nh ảnh phái đoàn thể thao Triều Tiên hợp nhất. Thế giới đang trở thành một ngôi nhà chung chan ḥa yêu thương  và nhân ái, một đại gia đ́nh của tất cả các dân tộc. 

Trong những thập niên tới đây, xu thế này sẽ phát triển nhanh hơn nữa và rộng khắp hơn nữa. Sẽ không c̣n một thế giới bị khuynh loát bởi một siêu cường độc nhất nào nữa, dù Hoa kỳ vẫn sẽ là một siêu cường quốc, vẫn sẽ tiếp tục đóng một vai tṛ không thể thiếu trong việc ổn định thế giới. Cũng sẽ không c̣n một thế giới chỉ của Âu-Mỹ và do Âu-Mỹ chi phối, dù những ǵ Âu-Mỹ đóng góp cho tiến bộ của nhân loại, đặc biệt cho Á Châu, từ mấy thế kỷ nay, là vô cùng to lớn, và sẽ tiếp tục là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự tiến bộ của nhân loại và của toàn thể thế giới. Nhưng thế giới hôm nay và nhất là trong những thập niên tới sẽ có phần tham dự quan trọng của những yếu tố tiến bộ mới, không phải Âu-Mỹ, và nhất là của những yếu tố đến từ Á Châu. 

Chúng ta đều biết ngày nay nhiều nhà nghiên cứu Âu-Mỹ đă cho rằng, một cách khái quát, thế kỷ 19 là thế kỷ của Âu Châu, thế kỷ XX là thế kỷ của Hoa Kỳ, và thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của Á Châu-Thái B́nh Dương. Những biến chuyển trong khu vực Á Châu-Thái B́nh Dương trên tất cả mọi lănh vực, từ kinh tế thương mại tới văn hóa học thuật và chính trị quân sự, đều đang cung cấp cho chúng ta những chỉ dấu như thế. Riêng đối với Hoa Kỳ, Á Châu-Thái B́nh Dương đă được nâng lên tầm mức chiến lược quan trọng vào bậc nhất và được Tổng thống Bill Clinton chính thức đưa ra trong bài diễn văn đáng ghi nhớ tại Quốc Hội liên bang Úc ngày 20 tháng 11 năm 1996, ngay sau khi ông tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hai. Trong xu thế đó, chúng ta đang và sẽ tiếp tục thấy diễn ra tại Á Châu-Thái B́nh Dương cuộc tái ḥa nhập Á-Âu Mỹ trong quá tŕnh toàn cầu hóa trên tất cả mọi lănh vực hoạt động xă hội và trong bối cảnh một Á Châu, nhất là một ASEAN, đang tiến nhanh trên con đường hưng thịnh. Tại mỗi quốc gia trong khu vực này, đặc biệt tại Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam, đang và sẽ dồn dập diễn ra những biến chuyển kinh tế xă hội, văn hóa thông tin, và chính trị ngày càng phù hợp với xu thế chung của thế giới và của Á Châu-Thái B́nh Dương. 

Những biến chuyển đó đang và sẽ làm suy yếu và tiến đến vô hiệu hóa mọi ư đồ độc quyền và độc tài của những nhóm cầm quyền dù quân phiệt hay đảng trị tại khu vực ngày càng trở nên quan trọng này của thế giới. Riêng với dân tộc ta, viễn cảnh thế giới và khu vực trong những thập niên tới đang mở ra trước mắt dân tộc Việt nói chung, và những người Việt tự do ở hải ngoại nói riêng, một chân trời phát triển hết sức rộng lớn. Nhưng đất nước và dân tộc chúng ta chỉ có thể tiến về chân trời rộng mở này khi có một cơ chế chính trị và một khung cảnh xă hội tự do trong đó sinh lực và tài năng của mọi người Việt không phân biệt địa phương, tôn giáo, chính kiến, tư tưởng, đều có cơ hội để phát huy. Bằng kinh nghiệm thực tế, chúng ta không tin rằng tập đoàn cầm quyền hiện nay ở Việt Nam có thể tạo ra được các điều kiện và cơ hội như thếù cho toàn dân Việt Nam, dù họ có “đổi mới” như thế nào. Mọi chương tŕnh “đổi mới” tới nay của ban lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam vẫn chỉ nhằm t́m cách thích ứng với t́nh h́nh quốc tế mới để duy tŕ độc quyền chính trị và văn hóa của họ. Tháng 10 năm 1990, ông Nguyễn Cơ Thạch lúc đó c̣n là Ngoại trưởng, trong bài diễn văn đọc tại Đại hội đồng LHQ đă công nhận rằng đảng CSVN có một sai lầm nghiêm trọng.  Đó là muốn xây dựng một chế độ dân chủ “của dân, do dân và v́ dân” nhưng lại không do dân mà do đảng. Và ông yêu cầu quốc tế hăy cho đảng cộng sản VN tiến hành sửa đổi sai lầm này một cách từ từ từng bước một. Nhận được sai lầm của đảng cộng sản, một sai lầm căn bản, là một điều tiến bộ đáng được ghi nhận của ông Nguyễn Cơ Thạch. Nhưng có lẽ sự thẳng thắn quá mức đó có thể đă là một trong những nguyên nhân khiến ông bị loại ra khỏi bộ chính trị ngay trong đại hội đảng sau đó.

Trong một bài viết trên Diễn Đàn Tự Do lúc đó, tôi đă nhận định về phát biểu này và đă bác bỏ luận điểm này của ban lănh đạo cộng sản. Tất nhiên mọi kế hoạch đều phải được thực hiện từ từ từng bước một. Nhưng có hai vấn đề cần làm rơ ở đây liên quan đến mục đích và thời hạn của những bước từ từ đó. Phải chăng những bước đổi mới từ từ đó chỉ nhằm củng cố vị thế độc quyền chính trị và văn hóa của đảng cộng sản? Từ đó tới nay chưa có dấu hiệu nào trong chính sách “đổi mới” của ban lănh đạo cộng sản phủ nhận điều này. Và từ từ từng bước đến bao giờ? Trong cương lĩnh chính trị của đảng cộng sản chúng ta không hề thấy có những bước cụ thể, với thời gian nhất định, để đưa đất nước đến chế độ dân chủ. Ngược lại ban lănh đạo cộng sản không dấu diếm ư đồ duy tŕ chế độ cộng sản và con đường phát triển đất nước theo chủ nghĩa cộng sản. Có nghĩa là từ từ từng bước ở đây chỉ là một cách hoăn binh để củng cố chế độ mà thôi. Chúng ta không thể có ảo tưởng rằng những bước đổi mới từ từ từng bước mà ban lănh đạo đảng cộng sản đang đưa ra để thuyết phục quốc tế sẽ dẫn tới một chế độ dân chủ.

Trừ một điều mà tôi tin chắc đang và sẽ tiếp tục xẩy ra ngày một quyết liệt hơn. Đó là mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa ư đồ chiến lược của ban lănh đạo đảng cộng sản với xu thế toàn cầu hóa và diễn biến thực tế của t́nh h́nh thế giới và ngay tại Việt Nam. Ư đồ chiến lược của ban lănh đạo đảng cộng sản, thể hiện trong kế hoạch “đổi mới” của họ, chỉ là những ư đồ chủ quan, đi ngược với xu thế và t́nh h́nh thế giới, bất cập với khát vọng tự do hạnh phúc của toàn dân Việt, và do đó hoàn toàn không đưa ra đươc những giải pháp cụ thể để giải quyết t́nh trạng bế tắc của đất nước, và ngay của chính chủ nghĩa cộng sản nói chung và của đảng cộng sản Việt Nam nói riêng. Chính v́ vậy mà ngay trong nội bộ đảng cộng sản đang bộc lộ những mâu thuẫn nội tại khó thể hàn gắn được. Hầu hết những biến động hiện nay ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, đều do chính những cán bộ cộng sản về hưu tạo ra, những người không c̣n chức quyền, không có đặc quyền đặc lợi, và trong nhiều trường hợp, nhất là ở nông thôn, đang bị cường quyền áp bức.

Trong khi đó th́ cuộc cách mạng thông tin điện tử toàn cầu, với e-global commerce, e-global culture, và cả e-global politics, đang ngày càng thông lưu biên giới giữa Việt Nam với thế giới, giữa người dân trong nước với cộng đồng người Việt hải ngoại.  Việt Nam đang ḥa nhập vào ḍng tiến hóa chung của thế giới và nhân loại. Người dân Việt ở hải ngoại và ở trong nước ngày càng có thêm nhiều điều kiện và cơ hội để nối kết với nhau thành một đại khối dân tộc, tách biệt và đối lập với thiểu số cầm quyền. Một xă hội Việt mới đang h́nh thành thông lưu trong nước với quốc tế, trong nước với hải ngoại. Người dân Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đang kết hợp lại tự giúp nhau tăng cường sức mạnh để, bất chấp thiểu số đang cầm quyền, tự động giành lại quyền chủ động từ kinh tế thương mại sang văn hóa, giáo dục, thông tin rồi cuối cùng, tiến đến chính trị. Một cuộc cách mạng mới đang diễn ra, do chính người dân thực hiện một cách tự động và tự phát. Cuộc chiến đấu thầm lặng và dai dẳng của toàn dân Việt cho tự do hạnh phúc và phú cường trong suốt thế kỷ nay, sau nhiều lần bị bội phản, đang bước vào giai đoạn quyết định sau cùng. Người dân Việt trong nước với hải ngoại đang có cơ hội và điều kiện thuận lợi nhất để t́m đến với nhau, giúp đỡ nhau, tăng cường sức mạnh cho nhau, nối kết với nhau, để cùng mở bung cánh cửa Tổ Quốc Việt Nam ra với thế giới. Trào lưu tự do tiến bộ của nhân loại sẽ ùa vào đất nước Việt quét tan đi không khí chính trị, văn hóa lạc hậu đầy ô nhiễm hiện nay, khơi dậy sức sống tiềm ẩn của toàn dân Việt. Một mặt trận mới đă bắt đầu với hai trận tuyến ngày càng rơ nét: một bên là thiểu số cộng sản cầm quyền, lạc hậu, bất lực, bảo thủ và độc đoán; một bên là toàn dân Việt cả trong nước lẫn hải ngoại với khát vọng tự do hạnh phúc và tiến bộ.

Trong giai đoạn cuối cùng này những người Việt Tự do bất kể đang ở đâu, trong nước hay hải ngoại, trong đoàn thể chính trị, tôn giáo, văn hóa, thông tin nào đều có chung hai công việc cần làm. Một là đẩy nhanh quá tŕnh thông lưu Việt Nam với thế giới, thông lưu người dân trong nước với hải ngoại, chủ động nối kết toàn dân Việt lại thành một đại khối dân tộc trên mọi mặt từ kinh tế thương mại tới văn hóa, thông tin, giáo dục và chính trị để h́nh thành trận tuyến dân tộc, từ đó tách biệt thiểu số cộng sản đang cầm quyền ra khỏi đại khối dân tộc. Hai là đẩy nhanh cuộc vận động ngoại giao quốc tế theo chiều hướng tách biệt tập đoàn cầm quyền hiện nay ra khỏi công luận quốc tế về mặt đạo lư và lương tâm nhân loại, tiến lên thách thức tính hợp pháp của tập đoàn cầm quyền hiện tại, và sau cùng đưa ra trước cộng đồng quốc tế giải pháp không cộng sản cho một nước Việt Nam tự do, ḥa b́nh, ổn định và tiến bộ. 

Hai công việc này liên quan mật thiết với nhau. Không có một trận tuyến toàn dân Việt làm nền tảng chính nghĩa trong sáng cho cuộc vận dộng quốc tế th́ cuộc vận động quốc tế chỉ là một h́nh thức ngoại giao cầu cạnh xin xỏ, làm tổn thương tới danh dự dân tộc và không tạo được uy tín cho giải pháp dân chủ Việt Nam. Đồng thời nối kết toàn dân Việt trong nước với hải ngoại không được thực hiện trong bối cảnh đại gia đ́nh thế giới toàn nhân loại tiến bộ sẽ không tạo được sức mạnh cho người dân trong nước, đồng thời không làm nổi bật được tính chất bảo thủ, lạc hậu và đóng cơi của tập đoàn thiểu số cầm quyền hiện nay, và do đó không tách biệt được họ ra khỏi đại khối dân tộc, và ra khỏi công luận quốc tế. Vận động quốc tế phải nhằm lấy lại danh dự và uy tín cho dân tộc, và tranh thủ được sự đồng t́nh quốc tế cho một giải pháp không cộng sản để khai thông bế tắc hiện nay của dân tộc. 

              

Thưa toàn thể quí vị,

Mặc dù đây là Đại Hội của Mạng Lưới Nhân Quyền, nhưng nhân quyền và dân chủ quan hệ hỗ tương. Dân chủ là môi trường cần thiết để nhân quyền được thực thi. Đồng thời bảo vệ và đ̣i thực thi nhân quyền là tạo điều kiện để thiết lập chế độ dân chủ. Không thể hy vọng nhân quyền được thực thi trong một chế độ độc tài, nhất là độc tài cộng sản. Do đó tôi tin rằng quí vị thành viên của MLNQ chắc chắn cũng quan tâm thảo luận về t́nh h́nh chính trị của thế giới và Việt Nam. Và tôi chắc quí vị cũng đều thấy rằng t́nh h́nh thế giới và VN hiện nay đang ngày càng có những diễn biến dồn dập theo chiều hướng thuận lợi cho cuộc đấu tranh chung của chúng ta cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam. Và v́ mối quan hệ mật thiết giữa nhân quyền và dân chủ như thế, tôi cho rằng chúng ta cần tập trung trao đổi và nhanh chóng đi tới đồng thuận về một tầm nh́n Việt Nam trong thế kỷ XXI, một tầm nh́n Việt Nam có tính chiến lược xa dài trong bối cảnh thế giới và nhân loại những thập niên tới. Sự đồng thuận về tầm nh́n chiến lược này sẽ giúp chúng ta ổn định được tư tưởng, gia tăng được sức mạnh tinh thần cho các cố gắng đang có của mọi cá nhân và đoàn thể cả ở hải ngoại lẫn trong nước. Để từ đó mỗi cá nhân cũng như mỗi đoàn thể sẽ phát huy được các thế mạnh riêng của ḿnh, bằng những phương thức đa dạng và trong mọi lănh vực hoạt động thích hợp, từ kinh tế thương mại, y tế, xă hội, văn hóa, giáo dục, tới thông tin, báo chí, và chính trị. Thực ra nhiều nét chính về tầm nh́n chiến lược này đă được tŕnh bầy rải rác trong các bài viết và văn kiện chính trị, tư tưởng của những người đấu tranh cho dân chủ tự do và nhân quyền ở trong nước cũng như ở hải ngoại trong hơn hai mươi năm qua. Ở đây, tôi chỉ xin tổng kết ngắn gọn thành bốn mục tiêu chiến lược như sau : 

1. thống nhất toàn dân Việt cả trong nước lẫn hải ngoại thành một đại khối dân tộc Việt đấu tranh cho một nước Việt Nam Tự Do;

2. tách biệt và cô lập thiểu số cộng sản cầm quyền ra khỏi đại khối dân tộc Việt;

3. tách biệt và cô lập thiểu số cộng sản cầm quyền ra khỏi công luận và sự ủng hộ quốc tế;

4. tranh thủ sự đồng t́nh ủng hộ của công luận quốc tế và của các chính phủ dân chủ trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ, cho một giải pháp Việt Nam Tự Do được đại đa số dân chúng Việt Nam tán trợ.

Thực hiện được bốn mục tiêu chiến lược này chúng ta sẽ giành lại được thế chủ động, vô hiệu hóa được ư đồ chiến lược thô lậu của ban lănh đạo dảng cộng sản, và nhất là thiết lập được một nước Việt Nam Tự Do trong thực tế (de facto). Và từ đó, đặt ban lănh đạo đảng cộng sản trước một trong hai chọn lựa: hoặc là đủ bản lănh và viễn kiến (một điều mà tới nay họ chưa hề có) để tự động trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự do lựa chọn thể chế chính trị và những người lănh đạo đất nước, hoặc là sẽ bị tan vỡ trong bạo loạn. Dù xẩy ra trường hợp nào, tôi cũng vững tin rằng tương lai thuộc về đại khối nhân dân Việt, những con người luôn luôn muốn hướng tới tự do, công bằng và tiến bộ, luôn luôn khát vọng xây dựng một đất nước Việt Nam thanh b́nh và phồn thịnh, xứng đáng với bề dầy lịch sử và với khả năng tiềm tàng của chính họ.

 

 

(Bài nói chuyện tại buổi dạ tiệc

Đại Hội MLNQ, Little Saigon, 6/10/2000)