T̀NH H̀NH NHÂN QUYỀN
Tại Việt Nam

Đài VOA Phỏng Vấn Nhân Ngày

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

 

11 Dec 2003, 20:25 UTC - VOA Website

Nguyễn Lê thực hiện và ghi lại

 

 

Nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền ra đời, Tiến sĩ Đoàn Viết Hoạt, một nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng, hiện sống lưu vong tại Hoa Kỳ, đă dành cho Ban Việt ngữ đài Tiếng nói Hoa Kỳ một cuộc phỏng vấn về t́nh h́nh nhân quyền tại Việt Nam hiện nay. Mời quư vị theo dơi nội dung cuộc phỏng vấn đó do Nguyễn Lê thực hiện.

 

Nguyễn Lê: Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 55 ngày ra đời của bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, xin Giáo sư cho biết Giáo sư đánh giá như thế nào về t́nh h́nh nhân quyền tại Việt Nam so với những năm trước đây?

ĐVH: So với 5 năm vừa qua, so với 5 năm trước đây-tức là lúc tôi c̣n bị giam giữ, th́ tôi nghĩ là t́nh h́nh cũng chưa có biến chuyển ǵ quan trọng lắm. Đặc biệt là về những lănh vực về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, và có thể nói là về lănh vực này th́ nó không những là không tiến triển mà c̣n có chiều hướng thụt lùi. Ví dụ như cho tới nay th́ tất cả những người chống đối, đối kháng và bất đồng chính kiến đă bị giam giữ, hầu như không c̣n một người nào ở ngoài nhà tù nữa. Do đó tôi thấy rằng t́nh h́nh đi xuống về mặt tự do tư tưởng, ngôn luận, và những quan điểm chính trị. Riêng về mặt tôn giáo th́ có thấy cải thiện một chút, nhưng mà cũng chưa thật sự là cải thiện đúng mức của nó. Nhà nước c̣n chưa nh́n thấy vấn đề là không nên can thiệp vào những công việc nội bộ của các giáo hội. Vấn đề tôn giáo vẫn c̣n cần phải được đẩy mạnh hơn nữa.

 

VOA: Thưa Giáo sư, yếu tố nhân quyền đóng vai tṛ nào trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt nam hiện nay?

ĐVH: Theo tôi nghĩ, tôi thấy nó rơ rệt hơn trước. Ví dụ như so sánh với thời kỳ ông Peterson làm đại sứ với ông đại sứ mới Burghardt bây giờ, th́ tôi thấy nhiệm kỳ này của tân đại sứ Mỹ nhấn mạnh về vấn đề nhân quyền và nói về nhân quyền một cách rơ ràng hơn. Ví dụ như hội nghị mới chấm dứt ở Hà Nội giữa những nước cung cấp viện trợ, th́ tôi thấy bài diễn văn của ông đại sứ Mỹ cũng như nhiều đại diện của các nước khác, nhưng tôi chú ư đến bài diễn văn của ông đại sứ Mỹ bởi v́ ông ấy nói rất rơ về vấn đề nhân quyền, và ông ấy cho rằng nếu không có tự do thông tin và tự do phát biểu ư kiến của người dân th́ không thể nào có sự phát triển kinh tế một cách bền vững và mạnh mẽ được. Đó là một điều tôi thấy rất là chính xác, do đó tôi nghĩ rằng trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong thời gian này, và nhất là trong những năm tới đây, th́ vấn đề nhân quyền, và đặc biệt là những vấn đề liên hệ tới sự phát triển kinh tế một cách bền vững, ổn định, càng ngày càng trở nên một vấn đề quan trọng.

 

VOA: Về vấn đề nhân quyền và quan hệ với Việt Nam. lâu này vẫn có hai ư kiến trái ngược nhau. Có ư kiến cho rằng mở rộng quan hệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện nhân quyền ở Việt Nam. Nhưng cũng có ư kiến cho rằng mở rộng quan hệ chỉ củng cố thêm quyền lực nhà nước Việt Nam, khiến họ có thể đàn áp nhân quyền mạnh tay hơn. Giáo sư nghĩ như thế nào về 2 quan điểm này?

ĐVH: Thực tế mà nói, nếu mở rộng bang giao một cách thuần túy th́ chưa chắc đă cải thiện được vấn đề nhân quyền. nhưng nếu mở rộng bang giao liên hệ tới sự phát triển một cách ổn định ở khu vực Đông Nam Á, Á Châu-Thái B́nh Dương, cũng như là để bảo vệ ngay quyền lợi của nước Mỹ thôi ở vùng này, th́ tôi vẫn nghĩ rằng là những vấn đề nhân quyền không phải là không liên hệ tới sự gia tăng bang giao, đặc biệt là sau vụ mồng 9 tháng 11 vừa rồi. Nhiều người cho rằng chính mồng 9 tháng 11 làm trở ngại cho việc thúc đẩy nhân quyền. Nhưng mà tôi th́ tôi nghĩ ngược lại, và tôi thấy t́nh h́nh đang diễn biến theo một chiều hướng khác, tức là nước Mỹ sau mồng 9 tháng 11 cảm thấy rơ rằng là an ninh của ḿnh không thể bảo đảm được nếu mà trên thế giới c̣n có những quốc gia độc tài và những quốc gia trong đó những cá nhân hoặc những đảng nắm toàn bộ quyền quyết định vận mệnh của một quốc gia đó, th́ vấn đề khủng bố quốc tế không thể nào diệt trừ được. Do đó, trong chính sách mới về an ninh mà Tổng thống Bush đưa ra vào cuối năm 2002 vừa qua th́ tôi thấy rơ là nó gắn liền với vấn đề nhân quyền và dân chủ, vấn đề an ninh quốc gia Mỹ gắn liền với vấn đề gia tăng nhân quyền và dân chủ ở trong các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia mà hiện nay c̣n dưới chế độ độc tài như Iraq, như là Bắc Triều Tiên.v.v. Do đó tôi nghĩ rằng gia tăng bang giao giữa Mỹ với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sẽ liên hệ chặt chẽ với việc cải thiện được t́nh h́nh nhân quyền ở Việt Nam, đưa lại cho người dân nhiều quyền tự do hơn, và chính quyền phải cải thiện trong việc điều hành đất nước để có thể đáp ứng được những nguyện vọng của người dân và để bảo đảm được những quyền tự do căn bản. Tôi nghĩ đấy là những cái rất là quan trọng cho chính nền an ninh của nước Mỹ và quyền lợi của nước Mỹ.

 

VOA: Trả lời một câu hỏi trước, Giáo sư có nhận xét rằng t́nh h́nh nhân quyền tại Việt Nam có chiều hướng thụt lùi, so với trước. Vậy, Giáo sư có đề nghị ǵ nhằm cải thiện t́nh trạng đó không?

ĐVH: Tôi vẫn chủ trương rằng trong bang giao giữa Hoa Kỳ với Việt Nam cũng như trong bang giao của các quốc gia với Việt Nam, đặc biệt là những nước đang giúp cho Việt Nam phát triển về vấn đề kinh tế, th́ không thể nào mà không gắn vấn đề cải thiện nhân quyền vào việc giúp đỡ để Việt Nam phát triển. Điều này th́ tôi thấy càng ngày những quốc gia viện trợ cho Việt Nam, và cả những cơ quan tài chính quốc tế, càng ngày càng đặt ra một cách rơ ràng hơn, bởi v́ họ hiểu rơ rằng nếu không cải thiện được t́nh trạng nhân quyền th́ những sự trợ giúp đó sẽ rất khó khăn và sự phát triển sẽ chậm chạp. Chẳng hạn như ngay về vấn đề giải ngân thôi, tức là có thể tiền viện trợ hàng tỷ đôla, hay là hơn 2 tỷ, nhưng sự giải ngân cũng chỉ hơn 1 tỷ, như năm ngoái chẳng hạn. Và tốc độ giải ngân rất là chậm, chính cũng v́ có những vấn đề liên hệ--chẳng hạn như sự trong sáng của cơ cấu chính quyền, những vấn đề trong sáng về tài chính, về ngân sách quốc gia, những vấn đề tham nhũng. Tất cả những vấn đề đó sẽ không thể cải thiện được, nếu mà chính quyền không càng ngày càng dân chủ hơn và người dân không càng ngày càng có quyền tự do để phát biểu ư kiến, dù là ư kiến trái ngược và bất đồng với những người cầm quyền. Do đó việc cải thiện những t́nh h́nh như vậy chắc chắn sẽ phải là một vấn đề quan trọng trong vấn đề viện trợ cho chính phủ Việt Nam hiện nay. Đó là một biện pháp mà tôi nghĩ rất là hữu hiệu.

Biện pháp thứ hai nữa là những áp lực của các tổ chức nhân quyền quốc tế tôi thấy càng ngày cũng càng mạnh mẽ và đồng loạt hơn trên tất cả mọi cơ cấu, từ nhân quyền quốc tế như từ LHQ cho đến Âu Châu, cho đến nước Mỹ, v.v. Đó là một biện pháp thứ hai mà tôi nghĩ cần phải tăng cường, và thật sự đang rất là hữu hiệu. Thứ ba là những dư luận của Quốc hội hay là của báo chí ở những nước có quan hệ với Việt Nam hiện nay, th́ những mặt này cũng cần phải được tăng cường và đặc biệt ở đây là vai tṛ của những người Việt hải ngoại, cộng đồng người Việt hải ngoại khắp nơi, cần phải đi vào ḍng chính mạch của sinh hoạt chính trị xă hội của những nước mà ḿnh đang sinh sống để tạo áp lực và ảnh hưởng lên những tiếng nói mà chính ḿnh bây giờ là công dân của những nước đó và có quyền nói lên tiếng nói của ḿnh để tạo áp lực. Tôi thấy cộng đồng người Việt hải ngoại ở khắp nơi hiện nay đang vận dụng được cái thế mạnh này của ḿnh, và đấy là những điểm đang tạo áp lực ngày càng hữu hiệu hơn.

 

VOA: Xin cám ơn Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đă vui ḷng dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn hôm nay về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ra đời.

 

PHÁT BIỂU
Về Hiệp Ước Thương Mại  Mỹ-Việt

Sau bốn năm thảo luận, ngày 13 tháng 7 vừa qua Hiêp Ước Thương Mại Mỹ-Việt đă được kư kết và sẽ được đưa ra thông qua tại Quốc Hội hai nước. Đây là một bước đi quan trọng trong tiến tŕnh Việt Nam hội nhập vào thé giới đồng thời cũng là cơ hội để Quốc Hội, chính phủ và công chúng Hoa Kỳ tiếp tục giúp nhân dân Việt Nam đẩy nhanh tiến tŕnh tự do hóa toàn bộ các mặt sinh hoạt xă hội ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 295 của Hạ Viện.

Bản Hiệp Ước Thương Mại Mỹ-Việt chắc chắn sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam. Nhưng để bản Hiệp Ước đạt được kết quả tích cực trước hết cần có một nền tư pháp độc lập và một hệ thống pháp luật công minh và bền vững, phù hợp với luật pháp quốc tế. Và để nền kinh tế Việt Nam phát triển đúng tiềm năng và tốc độ của nó, ngay trong lănh vực kinh tế tài chánh cũng c̣n cần nhiều thay đổi quan trọng. Ngoài ra bản thân nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và hoạt động được c̣n cần một môi trường xă hội dân sự cởi mở tự do và trong sáng, để toàn dân phát huy được tiềm năng và tiềm lực đa dạng và phong phú, tiếp thu và vận dụng được các tiến bộ của thế giới. Không có môi trường và điều kiện luật pháp, văn hóa và chính trị thích hợp th́ tự do thương mại sẽ không đem lại phúc lợi và công bằng cho toàn dân mà chỉ làm lợi cho giới cầm quyền và những người có đặc quyền đặc lợi. Tự do thương mại phải đi kèm với tự do văn hóa và tự do chính trị nếu muốn xây dựng một nước Việt phồn vinh, tự do, công bằng và nhân bản.

Xây dựng một nước Việt như thế là công việc của mọi người Việt không phân biệt địa phương, tôn giáo, chính kiến, trong nước cũng như hải ngïoai. Hiệp ước thương mại tự do Mỹ-Việt đang mở ra một giai đoạn mới với những cơ hội mới trong tiến tŕnh tự do hóa Việt Nam. Đây là giai đoạn ḥa nhập sức sống tự do đầy năng động và sáng tạo của cộng đồng người Việt hải ngoại vào sinh hoạt của người dân trong nước, để hỗ trợ người dân trong nước dành lại quyền chủ động, trước hết, trong lănh vực kinh tế thương mại, rồi tiến đến các lănh vực văn hóa và chính trị. Cùng với những đ̣i hỏi dân chủ và nhân quyền, việc mở rộng cửa thị trường nội địa cho họat động kinh tế thương mại tự do tư nhân và quốc tế sẽ thúc đẩy nhanh và mạnh hơn nữa tiến tŕnh xây dựng một nước Việt dân chủ và phồn vinh.

Về phía chính phủ Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế, cần bảo đảm rằng nền kinh tế tự do,với thị trường tự do và sự  cạnh tranh b́nh đẳng và trong sáng, phải được áp dụng không phải chỉ cho thương gia Mỹ và quốc tế, mà cả cho thương gia Việt Nam ở trong nước và từ hải ngoại về trong nước. Những hàng hóa tiêu dùng, công tŕnh và sản phẩm văn hóa, văn học, học thuật của người Việt hải ngoại phải được tự do nhập cảng vào Việt Nam và được tự do buôn bán ở Việt Nam.

Riêng đối với những nhà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam, đây là cơ hội thử thách ư chí, khả năng và vai tṛ của họ trong viêc đáp ứng khát vọng tự do hạnh phúc của toàn dân. Tôi kêu gọi họ hăy đưa ra những thay đổi căn bản về mặt chính trị và văn hóa tư tưởng để, cùng với những thay đổi về mặt kinh tế thương mại, mở đường cho một nước Việt mới ra đời hội nhập hoàn toàn vào trào lưu chung của nhân loại: một nước Việt với nền chính trị dân chủ, văn hóa tự do và kinh tế thị trường. Chỉ có một giải pháp toàn diện như thế mới thật sự đưa nước ta nhanh chóng ra khỏi t́nh trạng nghèo nàn lạc hậu kéo dài mấy thập niên qua, và thoát khỏi nguy cơ bất ổn định và bạo loạn xă hội.

 

 

Đoàn Viết Hoạt

Hoa Thịnh Đốn, ngày 14 tháng 7 năm 2000

 

 

VỀ CHÍNH SÁCH CUẢ HOA KỲ
Đối Với Việt Nam

Ghi Lại Cuộc Phỏng Vấn Của

Tạp Chí Tư Duy Thế Kỷ, Đài BBC

(7.11.2004)

 

 

Hồng Nga: Thưa quí vị, quí vị theo dơi thời sự quốc tế tuần vừa rồi chắc hẳn là đều biết cuộc bầu cử Tổng Thống của Hoa kỳ đă kết thúc với phần thắng thuộc về đương kim Tổng Thống, ông George W. Bush. Nhưng biến động ở trên chính trường của Hoa Kỳ th́ có ảnh hưởng như thế nào tới một lănh vực rất là quan trọng trong  xă hội của chúng ta ngày hôm nay, đó là lănh vực nhân quyền và dân chủ. Hôm nay Hồng Nga có mời hai chuyên gia trong lănh vực này tham gia thảo luận cùng với chúng ta. Đó là LS. Trần Thanh Hiệp, cựu luật sư Ṭa Thượng Thẩm Paris chuyên về luật quốc tế và nhân quyền, và GS. Đoàn Viết Hoạt từ Hoa Kỳ cũng là một người đă hoạt động rất lâu năm trong lănh vực nhân quyền và dân chủ. Xin chào hai ông. Xin bắt đầu bằng giáo sư. Hoạt. Xin ông có thể đánh giá thái độ và quan điểm của hai vị ứng cử viên Tổng Thống, trước khi có kết quả, về lănh vực nhân quyền và dân chủ nói chung trên thế giới.

ĐVH: Theo tôi thấy th́ nước Mỹ từ nhiều năm nay chú ư nhiều đến vấn đề nhân quyền và dân chủ trên thế giới. Nước Mỹ luôn luôn đi đầu trong việc ủng hộ các chế độ dân chủ và cố gắng cải thiện t́nh trạng nhân quyền nói chung. Nhưng giữa hai đảng và đặc biệt giữa hai ông Kerry và Bush có sự khác nhau trong cách giải quyết các vấn đề đó. Thường thường đảng Dân Chủ th́ họ  giải quyết một cách mềm dẻo hơn, c̣n cái cách của đảng Cộng Ḥa th́ thường nhanh và mạnh hơn. Đây là hai cách khác nhau nhưng cả hai đảng đều muốn cải thiện t́nh h́nh nhân quyền trên thế giới, đặc biệt với vùng Á Châu như Trung Đông hoặc Trung quốc và Việt Nam, v́ đây là những nơi mà chắc chắn là Hoa Kỳ hiện nay đang tập trung nỗ lực.

 

Hồng Nga: Ông nói rằng chính sách của ông Bush và của ông Kerry về mặt nhân quyền tương tự như nhau. Xin ông nói rơ cho thính giả đài BBC biết được là những chi tiết chính, những nhận định chính của ông về chính sách của ông Kerry của đảng Dân Chủ đối với vấn đề dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

ĐVH: Nói chung th́ đảng Dân Chủ vẫn chủ trương dùng những biện pháp mềm mỏng đối với các nước trên thế giới, trong khi đảng Cộng Ḥa th́ theo tôi nh́n trong quá tŕnh của nhiều năm th́ họ luôn luôn tỏ ra rất cương quyết và mạnh mẽ. Nhưng thực ra th́ cả hai đều có chung một mục tiêu là cải thiện t́nh h́nh chung của thế giới trên cái hướng là ngày càng có nhân quyền hơn, dân chủ hơn. Và cũng sử dụng những biện pháp như đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, nhất là kinh tế thi trường tự do, để cho có được môi trường tốt hơn cho xă hội và dân chúng, từ đó cải thiện quyền con người của người dân và dân quyền ở trong xă hội. Phương pháp của hai bên có khác nhau nhưng mục tiêu th́ giống nhau.

 

Hồng Nga: Suốt cuộc bầu cử này th́ cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ, nhất là thành phần chống cộng th́ họ rất là bất b́nh trước hành động của ông John Kerry là không ủng hộ dự luật nhân quyền đối với Việt Nam. Điều này có mâu thuẫn với điều ông nói là chính sách của đảng Dân Chủ cũng giống như chính sách của chính phủ Bush về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

ĐVH: Tôi xin nhắc lại là cả hai đảng đều muốn cải thiện nhân quyền nhưng cái cách mềm mỏng của ông Kerry th́ đối với cộng đồng người Việt hải ngoại họ nh́n như là một cách thỏa hiệp đối với chế độ Hà Nội. Họï cũng nh́n lại quá khứ của ông Kerry, ông ấy phản chiến trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai điều đó cộng với việc ông ngăn cản dự luật nhân quyền, tất cả những điều đó làm cho cộng đồng người Việt chống đối ông. Việc chống đối này có cái hợp lư của nó bởi v́ thực sự ra nếu có mềm mỏng quá đối với Hà Nội th́ trong giai đoạn đầu có thể chấp nhận được, như thời kỳ ông Clinton, tức là thời kỳ mà nước Mỹ mới trở lại Việt Nam th́ cần phải mềm mỏng để có thể vào được Việt Nam, để có thể thân thiện được với Hà Nội. Nhưng nếu cứ tiếp tục như vậy th́ chắc chắn không thúc đẩy Hà Nội thay đổi về mặt chính trị cũng như nhân quyền hay dân chủ. Do đó cái phản ứng của cộng đồng người Việt hải ngoại là phản ứng rất tự nhiên. Đồng thời ngay với ông Bush chẳng hạn, khi ông đồng ư với câu nói của một phóng viên truyền h́nh Mỹ là người dân miền Nam Việt Nam trước đây không chiến đấu cho tự do nên họ phải chịu cảnh như ngày nay, th́ điều này cũng gây phản ứng bất b́nh trong cộng đồng người Việt ở Mỹ. Ông Bush đă không thật sự hiểu hết được cái t́nh h́nh ở miền Nam trước đây, nó phức tạp hơn như vậy, có rất nhiều trở ngại, trong đó có cả cái sai lầm trong chính sách của Hoa Kỳ trong việc điều hành cuộc chiến tranh đó, v.v… Do đó người Việt hải ngoại cũng phải phản ứng, và v́ vậy nên ngay trước cuộc bầu cử, em của Tổng Thống Bush là Thống Đốc bang Florida đă thông qua và kư đạo luật của Florida công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của người Mỹ gốc Việt tại Florida, để cố gắng lấy lại số phiếu của người Việt. Lá phiếu của người Việt dù c̣n ít nhưng rất quan trọng, v́ trong cuộc bầu cử Tổng Thống ở Mỹ có khi chỉ vài trăm phiếu, thậm chí chỉ vài chục phiếu thôi là đă có thể thắng, mà thắng rồi th́ lấy nguyên cả tổng số phiếu cử tri đoàn của tiểu bang đó. Trở lại vấn đề chính th́ ta thấy thái độ của người Việt hải ngoại đối với cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vừa rồi nó phản ảnh được cái nguyện vọng của người Việt hải ngoại là muốn nh́n thấy cái chính sách của Hoa Kỳ phải gắn liền với sự cải thiện nhân quyền. Do đó tôi hy vọng là ông Bush trong nhiệm kỳ tới đây sẽ chú ư nhiều tới khía cạnh này.

 

Hồng Nga: Những điều mà ông nói nó lập lại cái ư tưởng mà chúng tôi cũng đă từng nghe, chỉ trích những phần tử chống cộng là sống đắm ch́m trong quá khứ quá và không nghĩ tới việc phát triển trong tương lai. Bởi v́ đă có những người Việt ở hải ngoại bây giờ hô hào về việc đoàn kết dân tộc, về việc ḥa giải, rồi việc hội nhập. Thế nhưng mà rơ ràng là ở một bộ phận nào đó của người Việt hải ngoại th́ những việc đó hoàn toàn không được đề cập ra.

ĐVH: Theo tôi th́ cộng đồng người Việt hải ngoại đă trải qua một tiến tŕnh chuyển đổi, và bây giời tôi nghĩ đang ở vào một tiến tŕnh rất thuận lợi cho sự thống nhất dân tộc theo một nghĩa đúng đắn. Từ trước đến nay không có người Việt nào mà muốn cho dân tộc phải chia rẽ hay đánh nhau trong nội bộ cả. Nhưng tất cả là do chính sách sai lầm của những người cầm quyền, kể cả trước đây cũng như bây giờ, đă tạo ra. Hoặc do những chính sách của quốc tế đẩy dân tộc của chúng ta vào cuộc chiến tranh tương tàn. Nhưng hăy trở lại ngay bây giờ th́ ta thấy 300 ngàn người Việt hải ngoại về thăm quê hương nói lên một điều rất rơ ràng là người Việt hải ngoại không húy kỵ ǵ trong nước hết.  Nhưng nếu nh́n khách quan th́ chúng ta thấy những người đang cầm quyền ở Hà Nội vẫn chưa thực hiện những chính sách mà họ có thể thực hiện được và nên thực hiện để mà hàn gắn đối với cộng đồng người Việt hải ngoại. Chính người cầm quyền phải đi trước và phải thực hiện những chính sách để hoà giải với dân chúng chứ dân chúng làm sao mà ḥa giải được với người cầm quyền. Dân chúng là những người chịu dưới sự cai trị của người cầm quyền, đặc biệt là trong cái chế độ độc đảng độc tài như hiện nay chẳng hạn th́ chính người cầm quyền phải thực hiện vài cái rất là cụ thể. Như trong cuộc gặp gỡ giữa ông Thứ Trưởng Ngoại Giao từ Hà Nội với một số người ở cộng đồng hải ngoại ngay ở vùng DC năm ngoái đây, họ đề nghị một số những biện pháp có thể cải thiện quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với chính phủ Hà Nội, nhưng Hà Nội đă không thực hiện, dù là rất đơn giản, rất nhân đạo. Thí dụ như nghĩa trang quân lực VNCH, tại sao người chết rồi mà vẫn c̣n bị phân biệt. Phân biệt trong chiến tranh th́ cũng hiểu được, nhưng đă ḥa b́nh rồi th́ muốn thống nhất dân tộc th́ không thể phân biệt được nữa. Do đó nghĩa trang quân đội VNCH phải được phục hồi lại một cách tử tế đàng hoàng, điều này vẫn chưa thấy được thực hiện. Thứ hai là sách báo, nhất là những sách báo không có tính cách chính trị, không đả kích ai cả, cũng không được xuất bản ở trong nước. Đặc biệt có những tờ báo ở hải ngoại bây giờ đăng rất nhiều bài của những người trong nước viết, một cách rất tự nhiên, mà trước đây hải ngoại có thể chống đối nhưng bây giờ đă tiếp nhận một cách thoải mái, miễn là những bài viết đó đừng tuyên truyền cho chế độ cộng sản. Những sách báo đó cũng không được xuất bản ở trong nước. Như vậy th́ không thể tạo được một không khí ḥa giải.

 

 

(7.11.2004)

 

 

 

THANH NIÊN VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Trước Thềm Thế Kỷ XXI

Thưa Quí Vị,

Cùng các bạn thanh niên, sinh viên và học sinh Việt Nam hải ngoại thân mến,

Chỉ c̣n không đầy hai năm nữa là nhân loại bước vào thiên niên kỷ thứ ba. Năm vừa qua toàn thế giới đă tổ chức kỷ niệm 50 năm bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Năm nay nhân loại sẽ bắt đầu kiểm điểm toàn bộ những thành quả cùng nhữơng vấn nạn của thế kỷ XX để chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI. Những sinh hoạt mang ư nghĩa chính trị và văn hóa toàn cầu này đă và đang cho chúng ta, những người Việt tự do hải ngoại, cơ hội để cùng chia xẻ với toàn nhân loại những kinh ngiệm của thế kỷ XX, đồng thời suy ngẫm về những triển vọng và thách thức của thế kỷ XXI. Đặc biệt đối với giới trẻ Việt Nam hải ngoại các bạn sẽ có dịp để tăng cường mối quan tâm cùng những hiểu biết không những về thế giới mà c̣n về Việt Nam hôm qua, hôm nay và ngày mai. Tương lai luôn luôn thuộc về giới trẻ, dù đó là tương lai thế giới hay tương lai Việt Nam. Nhưng để chuẩn bị hành trang cho tương lai không thể không kiểm điểm quá khứ và phân tích hiện trạng.

Hiện nay đang có hơn hai triệu người Việt phải sống xa quê hương v́ muốn có tự do và một tương lai sáng sủa, trong đó có cả trăm ngàn thanh thiếu niên đang theo học tại các trường học tiên tiến nhất trên thế giới, hoặc đang làm việc tại các cơ sở kinh tế, văn hóa, giáo dục…cao, trung cấp của các quốc gia phát triển. Đây là vốn tri thức vô giá của đất nước. Ba mươi tháng tư năm bẩy lăm là nỗi đau nhục của đất nước, với bao mất mát đầy máu xương và nước mắt, nhưng cũng là một cơ hội hiếm có để mở đường cho dân tộc ta hội nhập vào trào lưu chung của thế giới và tiếp thu những tiến bộ mới nhất của nhân loại. Đây cũng là cơ hội cho giới trẻ Việt Nam có đủ điều kiện để phát huy tiềm năng vô tận của ḿnh. Đa số giới trẻ Việt Nam hải ngoại đều chứng tỏ năng lực và trí tuệ không thua kém giới trẻ của bất cứ quốc gia nào. Trước 30.4.1975 thế giới chỉ biết một Việt Nam máu xương và lửa đạn. Sau 30.4.1975, qua cộng đồng người Việt tự do hải ngoại, thế giới bắt đầu biết đến một Việt Nam tiềm tàng sức sống, cần cù, sáng tạo, và dễ dàng hội nhập vào cộng đồng thế giới. Riêng đối với giới trẻ Việt Nam hải ngoại, việc tiếp cận với nền văn minh Tây phương trong giai đoạn tiên tiến nhất về khoa học kỹ thuật vừa đem lại cơ hội hiếm có để phát triển tiềm năng, vừa được trực tiếp kiểm nghiệm những ưu khuyết điểm của một xă hội hậu công nghiệp.

Thế giới 100 năm qua đă đạt được những bước tiến vượt bực về khoa học kỹ thuật và tiện nghi đời sống mà một thế kỷ trước đây không môt ai có thể dự kiến được. Nhiều học giả cho rằng 100 năm qua nhân loại đă đạt được những tiến bộ bằng cả 500 năm trước. Những tiến bộ này, đặc biệt trong các ngành khoa học kỹ thuật, hiện đang được vận dụng khá rộng răi ở hầu khắp thề giới với những mức độ khác nhau, đă tăng trưởng mức sống của con người, giúp con người giảm thiểu rất nhiều công sức, thời gian, và rút ngắn không gian trong khi giải quyết những công việc thường ngày. Đặc biệt, cuộc cách mạng truyền thông, với những tiến bộ vượt bực trong ngành vi tính điện tử, đă giúp thế giới ngày một thu hẹp dần; nhân loại ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện để xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn, dù vẫn c̣n nhiều điều bất cập. Một xă hội nhân bản toàn cầu đang có nhiều điều kiện tốt đẹp hơn để h́nh thành.

Tuy nhiên nhân loại đă vượt được một thế kỷ qua không phải trên một con đường bằng phẳng. Để chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ mới nhân loại đă phải vượt qua bao đau thương thử thách, bằng trí tuệ và mồ hôi lao động của chính ḿnh, và bằng cả những kinh nghiệm máu xương. Trận thế chiến thứ hai, với gần 50 triệu sinh mạng bị hủy diệt, với bao mất mát về văn hóa và tinh thần không thể đền bù lại được, và nhất là với sự tàn phá kinh hồn của hai quả bom nguyên tử, là lời báo động cuối cùng cho nhân loại trước nguy cơ diệt vong. Nhờ kinh nghiệm máu xương đó mà nhân loại đă tránh được thảm họa chiến tranh nguyên tử vào giữa thập niên 1980 vừa qua. Thế giới ngày nay vẫn c̣n nhiều bất trắc, với nguy cơ bạo loạn v́ nghèo khổ và bất công trên nửa phần của quả đất, với nguy cơ khủng bố của Hồi giáo cực đoan, và với nguy cơ bành trướng từ một nước Trung Hoa độc đoán và cực quyền, có sức mạnh nguyên tử để tiêu diệt hàng chục tỷ sinh mạng. Nhưng nhờ những kinh nghiệm đă qua và quyết tâm cùng năng lực hiện có nhân loại chắc chắn sẽ t́m được phương thức tốt nhất để giải quyết những khó khăn này.

Trong hành trang để buớc vào thế kỷ XXI nhân loại c̣n có những xu thế hết sức tích cực. Đó là xu thế dân chủ hóa, toàn cầu hóa và nhân bản hóa. Các xu thế này đều đă khởi sự h́nh thành ngay từ sau đệ nhị thế chiến - như là những phản kháng lại tính cách phi nhân, độc đoán và tàn bạo của thế chiến - nhưng chỉ thật sự định h́nh trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ. Ba xu thế này sẽ tiếp tục phát triển và tác động tới mọi mặt sinh hoạt quốc gia cũng như quốc tế trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, nhưng với một nội dung sâu rộng hơn.

Về xu thế dân chủ hóa chúng ta sẽ thấy thể chế dân chủ được hoàn thiện và nâng cao, với việc các tổ chức phi chính phủ (NGO) và quần chúng ngày càng tham gia trực tiếp hơn vào các sinh hoạt chung của xă hội dưới nhiều h́nh thức và mức độ khác nhau. Nhiều nhà tương lai học gọi h́nh thức dân chủ mới này là dân chủ tham gia để phân biệt với nền dân chủ đại diện hiện nay.

C̣n về xu thế nhân bản hóa, loài người sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc đặt con người làm trọng tâm của mọi tiến bộ khoa học kỹ thuật, theo ư nghĩa con người vừa là tác nhân, vừa là mục đích và đối tượng của mọi tiến bộ xă hội. Xu hướng này sẽ tiếp tục tác động vào mọi mặt của đời sống xă hội, đặc biệt là vào quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa cá nhân với cá nhân, và giữa cá nhân với xă hội. Xu thế nhân bản hóa cũng sẽ tác động vào cả quan hệ quốc tế và quan hệ liên quốc gia, và do đó sẽ đưa xu thế toàn cầu hóa lên một tầng cấp cao hơn. Toàn cầu hóa hiện nay đang được triển khai trong các lănh vực kinh tế, thương mại, tài chánh, và truyền thông, trong đó mạng lưới thông tin điện tử toàn cầu ngày càng đóng vai tṛ quyết định. Nhờ kỹ thuật thông tin điện tử toàn cầu siêu thời gian và không gian này mà xu thế toàn cầu hóa sẽ lan sang các lănh vực chính trị và văn hóa xă hội. Thế giới sẽ thật sự là một thế giới của toàn thể nhân loại, của tất cả các dân tộc, chứ không phải chỉ là một thế giới của các cường quốc Âu Mỹ, hay của Tây phương, như cho tới nay.  Điều này đ̣i hỏi cải thiện quan hệ quốc tế, một mặt loại trừ những mầm mống bạo loạn và độc quyền, mặt khác thiết lập những cơ cấu chính trị quốc tế thật sự đại diện được toàn thể các dân tộc. Việc cải tổ LHQ cũng như xây dựng một hệ thống công pháp quốc tế bảo đảm được tính chất nhân loại toàn cầu này là một phần quan trọng của chương tŕnh hành động quốc tế trong những thập niên tới.

Ngoài những khuynh hướng phát triển của thế giới trên đây người ta cũng dự kiến sự lớn dậy của Á Châu nói chung, Đông Nam Á và Nam Thái B́nh Dương nói riêng. Nhiều học giả đều có nhận định chung rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của Âu Châu, thế kỷ XX là của Hoa Kỳ, c̣n thế kỷ XXI là thế kỷ của Á Châu-Thái B́nh Dương. Người ta cũng ghi nhận sự gia tăng nhận thức của Âu Mỹ về giá trị của nền văn hóa Á Đông trước sụ khủng hoảng đạo đức và tinh thần của xă hội công nghiệp điện tử Tây phương.  Do đó trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI nhân loại có nhiều triển vọng thực hiện được một cuộc dung ḥa văn hóa Đông Tây làm nền tảng cho việc xây dựng một xă hội dân sự và nhân bản toàn cầu.

Trên đây là dự kiến đại lược và toàn diện về chiều hướng phát triển của thế giới và  nhân loại trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI. C̣n đối với đất nước ta th́ t́nh h́nh sẽ diễn biến như thế nào? Trước hết chúng ta cần thấy rơ rằng, kể từ thập niên 1950 trở đi t́nh h́nh nước ta không thể tách rời khỏi t́nh h́nh chung của khu vực và thế giới. Đất nước ta không thể phát triển độc lập với các nước khác trong khu vực cũng như toàn thế giới. Nếu cuộc tương tranh tả hữu quốc tế trước đây đă đẩy dân tộc ta vào cảnh tương tàn cốt nhục th́ chiều hướng phát triển mới của thế giới và nhân loại bắt đầu từ giữa thập niên 1980 trở đi đang đặt dân tộc ta trước những chọn lựa và thử thách mới. 

Đảng CSVN, tác nhân chính của thời máu lửa đă qua, và t́nh trạng nghèo nàn lạc hậu hiện nay, đă không đáp ứng được khát vọng ấm no hạnh phúc của toàn dân. Con đường cộng sản là con đường mà nhân dân ta muốn chọn lựa, nếu họ được tự do lựa chọn. Chủ nghĩa cộng sản đă chứng tỏ thất bại trong việc xây dựng một xă hội an vui và thịnh vượng sau hơn 70 năm được áp đặt ngay tai trung tâm cộng sản quốc tế. Nó cũng đă và sẽ không bao giờ đưa được nước ta vào thời kỳ hưng thịnh và văn minh. Tôi tin rằng nếu người dân Việt Nam được tự do lựa chọn thể chế chính trị chắc chắn họ sẽ loại bỏ chế độ độc tài đảng trị hiện nay bằng chính lá phiếu của họ. Chính v́ biết rơ điều đó hơn ai hết mà ban lănh đạo đảng cộng sản hiện nay không dám chấp nhận tự do ứng cử và bầu cử. Với chiêu bài xă hội chủ nghĩa và nhân danh ổn định chính trị, họ vẫn tiếp tục sử dụng mọi h́nh thức đàn áp từ tinh vi tới thô bạo để ngăn chặn mọi tiếng nói bất đồng, để bảo vệ độc quyền chính trị và văn hóa. Họ đưa ra chiêu bài xây dựng một xă hội văn minh và công bằng, nhưng làm sao có thể có văn minh khi chính quyền đàn áp những tiếng nói bất đồng bằng bạo lực? Làm sao có thể có công bằng khi chỉ những người cộng sản hoặc ủng hộ cộng sản đươc độc quyền có tiếng nói và có các tổ chức chính trị, văn hóa của họ? Họ đưa ra khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nhưng quyền quyết định, quyền dân chủ căn bản nhất, lại không nằm trong tay người dân mà trong tay đảng, hay đúng hơn trong tay một thiểu số lănh đạo. Họ bắt giữ những người bất đồng chính kiến và đ̣i cải tạo những người này trong khi chính họ đă phải “tự cải tạo” trong kinh tế, điều mà họ gọi là “đổi mới”. Và trong tương lai không xa, nếu họ không tự cải tạo trong văn hóa và chính trị, nghĩa là trả lại cho người dân quyền tự do quyết định thể chế chính trị và hệ tư tưởng, th́ họ sẽ bị đào thải khỏi chính trường Việt Nam trong thế kỷ XXI.

Trong khi đó dân chúng đă bất măn vượt quá khả năng chịu đựng, và đă bắt đầu gây bạo loạn ở nhiều nơi, cả nông thôn lẫn thành thị. Nhiều cán bộ đảng viên cũng không thể im lặng trước t́nh trạng bất công xă hội, và trước tệ tham ô lộng quyền ức hiếp nhân dân của những cán bộ có quyền thế. Ban lănh đạo đảng cộng sản đang đứng trước hai nguy cơ: bạo loạn trong dân chúng, và chia rẽ bất phục tùng trong đảng. Tất nhiên họ sẽ lại sử dụng các biện pháp đối phó cố hữu của họ, tức là một mặt đưa ra một vài cải cách nửa vời, để tạm thời xoa dịu bất măn của quần chúng, mặt khác xiết chặt kỷ luật trong đảng và tăng cường đàn áp các thành phần chống đối ngoài đảng. Tuy nhiên tất cả những biện pháp chống đỡ đó, đă từng được sử dụng nhiều lần, không những không dập tắt được phong trào chống đối ngày càng lan rộng, mà nhất là không thể giải quyết được những vấn đề căn bản của đất nước.

Đất nước ta chỉ có thể hănh diện bước vào thế kỷ XXI như là một quốc gia đầy tiềm năng và triển vọng nếu giải quyết được ba vấn đề căn bản sau đây: một là phát huy hết tiềm năng toàn diện của mọi người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại. Hai là vận dụng được những tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới và những xu thế thuận lợi của thời đại. Và ba là t́m được mô h́nh phát triển xă hội vừa phù hợp với bản sắc dân tộc, vừa mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, để dân tộc cùng với nhân loại không ngừng tiến hóa. Với bề dầy lịch sử gần năm ngàn năm, với sức sống mănh liệt của dân tộc, dân tộc ta sẽ nhanh chóng vượt qua ngưỡng cửa nghèo nàn lạc hậu để sánh vai cùng các nước tiên tiến chung hưởng nền văn minh mới của nhân loại trong thế kỷ XXI nếu chúng ta giải quyết được ba vấn đề trên đây. Nhưng chúng ta sẽ không thể giải quyết được ba vấn đề đó nếu c̣n chế độ độc đoán độc quyền hiện nay. Một chế độ không tạo được cơ hội để phát huy hết tiềm năng phong phú đa dạng của toàn dân, nhất là của giới trẻ.

Tuổi trẻ là tương lai đất nước. Nếu tuổi trẻ không có điều kiện để phát triển th́ tương lai đất nước cũng không thể sáng sủa được. Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại trong hơn hai mươi năm qua đă đạt được những thành công đáng kể trong cả học hành lẫn làm việc là nhờ có được những cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn giới trẻ trong nước. Nhưng nếu giới trẻ trong nước không phát huy được tiềm năng phong phú của ḿnh th́ giới trẻ hải ngoại cũng đang đứng trước nhiều thách thức cần phải vượt qua nếu muốn đóng góp tích cực và có hiệu quả vào việc xây dựng dân chủ và phát triển đất nước.

Giới trẻ Việt Nam hải ngoại có thể được chia làm ba thành phần, mỗi thành phần có những vấn đề khác nhau. Trước hết là những người trẻ được sinh ra ở hải ngoại hoặc khi ra sống ở hải ngoại mới ở vào tuổi nhi đồng. Đa số nững người trẻ này, sau khi sống ở hải ngoại một thời gian, nếu không được người thân trong gia đ́nh hướng dẫn thường hay gặp khó khăn trong vấn đề sử dụng tiếng Việt và duy tŕ nếp sống theo phong tục và văn hóa Việt Nam. Thành phần thứ hai gồm những người trẻ khi tới Mỹ đă ở vào lứa tuổi 14-15 trở lên. Những người trẻ này sử dụng tiếng Việt tương đối dễ dàng, cả nói, nghe, đọc và viết. Họ cũng có một số hiểu biết thực tiễn về xă hội Việt Nam hiện nay. Thành phần trẻ thứ ba này ở vào tuổi trên dưới 40. Đa số những người này khi rời đất nước thường đă có một nhận thức khá rơ rệt về thực trạng ở trong nước, và hiện nay đều đă có một đời sống tương đối ổn định và thành công. Những người trẻ đang tích cực đóng góp vào công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam thường thuộc vào thành phần trẻ này. Họ vững vàng về nhiều mặt, cả ngôn ngữ Việt, Anh, cả nếp sống, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Họ cũng dễ dàng ḥa nhập vào đời sống tiên tiến của thế giới. Mọi phong trào vận động cho một nước Việt Nam tự do dân chủ có thành công hay không là trông vào giới trẻ ở lứa tuổi này, kể cả hải ngoại lẫn trong nước.

Đối với hai thành phần trẻ đầu tiên, vấn đề của họ là luyện tập sử dụng tiếng Việt, hội nhập lại với nền văn hóa, phong tục và lich sử của dân tộc Việt, và hiểu rơ t́nh trạng đất nước và t́nh h́nh thế giới hiện nay. Đối với thành phần trẻ thứ ba, cần tạo điều kiện để họ tham gia vào các phong trào của cộng đồng người Việt hải ngoại  và ngày càng đóng vai tṛ chủ động hơn trong các phong trào đó. Các bạn trẻ thuộc lứa tuổi này cần tăng cường hiểu biết về mọi mặt, cả kiến thức lẫn năng lực tổ chức thực tiễn. Các bạn cũng cần nhận thức được xu hướng phát triển chung của thế giới, đồng thời nhận ra được những yếu kém của dân tộc ta, cũng như những triển vọng phát triển to lớn của thế giới nói chung, và của khu vực Đông Nam Á và Thái B́nh Dương nói riêng. Tương lai đất nước ta không những không thể tách rời khỏi xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới, mà chính những xu thế đó đang và sẽ tạo ra cho đất nước chúng ta những điều kiện phát triển rất thuận lợi và đầy triển vọng. Các bạn trẻ này cũng cần phải thấy rằng một nước Việt Nam mới đang ra đời, một nước Việt tự do, văn minh và phồn thịnh. Nó đang ra đời ngay trong ḷng của chế độ cộng sản ở trong nước, ngay trong ḷng của cộng đồng người Việt hải ngoại, trong ḷng của nền văn minh hậu công nghiệp, trong bối cảnh một xă hội nhân bản toàn cầu đang h́nh thành.

Để có thể hoàn thành được trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc, thanh niên Việt Nam hải ngoại phải nhanh chóng trưởng thành lên về mọi mặt, đặc biệt là về mặt văn hóa và chính trị, tự trang bị cho ḿnh những nhận thức và khả năng mới phù hợp với những xu thế mới của nhân loại trong thế kỷ XXI. Các bạn cũng như chúng tôi, đều phải tự thăng hoa thành những công dân tiền phong và tiên tiến nhất của nước Việt Nam mới. Có như thế chúng ta mới đáp ứng được khát vọng tự do và hạnh phúc đă quá lớn lao của toàn dân. Có như thế chúng ta mới đưa được cuộc vận động của chúng ta cho một nước Việt Nam mới sớm đến thành công. 

Thân ái chào toàn thể quí vị và các bạn.

 

____________________________________________________

(Bài nói chuyện tại Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Việt Nam Toàn Thế Giới Lần Thứ Nhất, Jan. 1999, Melbourne, Úc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƯ NGỎ
Gửi Những Người Dân Chủ Trong Nước

Thưa các bạn,

Xa nước hơn một năm qua, hôm nay nhân dịp đầu năm 2000, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn những cảm nghĩ của tôi về cuộc đấu tranh chung của chúng ta cho một nước Việt Nam tự do dân chủ trong bối cảnh mới của nhân loại và thế giới.

Nhân loại đă bước vào thiên niên kỷ mới trong một thế giới đă biến đổi sâu sắc so với một trăm năm qua, và sẽ càng biến đổi nhanh chóng hơn và toàn diện hơn trong vài thập niên tới. Nhờ những tiến bộ vượt bực trong mọi ngành hoạt động của xă hội, thế giới đang ngày càng thu hẹp lại cả về thời gian lẫn không gian. Một đời sống nhân loại đă xuất hiện. Một xă hội nhân bản ṭan cầu đang h́nh thành. Vận mệnh mỗi quốc gia không thể tách rời  khỏi bối cảnh chung đó của thế giới và nhân loại.

Dân tộc Việt chúng ta cũng đă trải qua một trăm năm đầy biến động, nhưng cũng đầy bi phẫn. Bi phẫn trong nô lệ thực dân, trong chiến tranh và hận thù. Bi phẫn trong nghèo đóùi, trong tai trời ách đất. Bi phẫn trong áp chế và bạo quyền, trong tù đầy lao cải. Bi phẫn trong rừng sâu, trên biển cả, đổi cái chết lấy tự do và hạnh phúc. 

Tất cả những bi phẫn đó đang dồn chứa lại thành một nỗi khổ nhục thời đại của dân tộc. Một trăm năm đă trôi qua đất nước chúng ta vẫn chưa thoát khỏi thời kỳ suy thoái, vẫn là một trong những nước nghèo nàn lạc hậu nhất trên thế giới. Không một người Việt yêu nước nào, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, dù xuất phát từ quan điểm chính trị nào, c̣n có thể làm ngơ trước nỗi khổ nhục thời đại đó. Chính v́ thế mà cả ở hải ngoại lẫn ở trong nước một cao trào đ̣i tự do dân chủ đang dâng lên ngày một mănh liệt hơn rộng khắp hơn. Suốt hơn hai mươi năm qua, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, bằng đủ mọi h́nh thức khác nhau, từ âm thầm chối bỏ và bất phục tùng chế độ tới bán công khai và công khai đ̣i hỏi công bằng, công lư và tự do, cao trào dân chủ chỉ thực sự chấm dứt khi người dân lấy lại được quyền tự chủ của ḿnh.

V́ chỉ có tự do dân chủ mọi tầng lớp nhân dân mới có cơ hội phát huy tiềm năng và lao động của ḿnh để kiến tạo đất nước mở đường cho dân tộc ḥa nhập vào trào lưu tiến bộ chung của nhân loại. V́ chỉ trong một xă hội tự do, một cơ chế chính trị trong sáng và cởi mở nhân tài mới xuất hiện để nhanh chóng đưa đất nước ra khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu. V́ chỉ trong tự do dân chủ nhân quyền và nhân phẩm mới có cơ hội và triển vọng được thực sự tôn trọng và bảo vệ

Đồng thời trong bối cảnh của một thế giới đang toàn cầu hóa về mọi mặt, cao trào đ̣i tự do dân chủ cho Việt Nam không c̣n chỉ là của người Việt và do ngựi Việt. Bằng nhiều cách thích hợp khác nhau, các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền phi chính phủ, và cả cơ quan nhân quyền LHQ, tất cả đều đang nỗ lực thúc đẩy h́nh thành một xă hội dân sự làm nền tảng cho một cơ chế chính trị dân chủ. Tất cả đều đang chia sẻ một nhận thức chung rằng dân chủ không phải chỉ là thành quả của sự phát triển kinh tế mà chính là môi trường văn hóa, xă hội và chính trị cần thiết cho kinh tế phát triển. Hơn thế nữa, tự do dân chủ c̣n là điều kiện căn bản để đạt được ḥa b́nh ổn định xă hội vững chắc và lâu bền.

Do đó, cuộc đấu tranh của những người dân chủ ở trong nước đang gặp nhiều thuận lợi. Quần chúng nhân dân đă hiểu được rằng họ có quyền và có khả năng được hưởng một cuộc sống tự do và hạnh phúc, và họ đang đ̣i hỏi điều đó. Ngay đại đa số đảng viên cộng sản cũng chỉ là những người dân thấp cổ bé miệng, chỉ là những con chốt trong bàn cờ danh lợi do một thiểu số quyền cao chức trọng điều khiển. Ban lănh đạo đảng cộng sản lại phải nương nhờ vào sự giúp đỡ của các nước dân chủ.  Trước t́nh h́nh đó, những người cầm quyền không c̣n có thể thẳng tay đàn áp những người dân chủ một cách thô bạo như trước đây nữa.

T́nh thế thuận lợi đó cho phép những người dân chủ trong nước đẩy cuộc đấu tranh của ḿnh sang một bước ngoặt quyết định. Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở trong nước có thể bước vào giai đoạn tập họp và công khai. Đă đến lúc cần ra đời một phong trào chính trị lẫn văn hóa đối lập trực diện và công khai với đảng cộng sản, đ̣i hỏi và thách thức ban lănh đạo đảng cộng sản chấp nhân tự do cạnh tranh cả trong kinh tế lẫn trong văn hoá và chính trị. Đă đến lúc công khai mở rộng trận tuyến dân chủ trong nước để tập họp được mọi thành phần nhân dân từ nông thôn tới thành thị, từ trí thức tới nông dân, từ Bắc tới Nam. Đă đến lúc có thể mở rộng cuộc vận động vào cả nhân dân lẫn đảng viên cộng sản. 

Về phần cá nhân tôi, kể từ ngày bị buộc dời khỏi quê hương tôi luôn cố gắng cùng những người bạn dân chủ hải ngoại nỗ lực vận động dư luận quốc tế quan tâm và hỗ trợ cho cao trào dân chủ ở trong nước. Chúng tôi luôn luôn theo dơi và cố gắng phối hợp với những hoạt động của các bạn ở trong nước, cả Nam lẫn Bắc. Chúng tôi tin rằng với sự phối hợp giữa trong nước và hải ngoại, và với sự hỗ trợ của quốc tế, chúng ta đang đẩy ban lănh đạo đảng cộng sản vào giai đoạn cuối cùng của con đuờng chọn lựa bắt buộc: hoặc là chấp nhận chế độ dân chủ, hoặc là tan ră trong bạo loạn chính trị và xă hội.

Trong những ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới này,với niềm tin tưởng vững chắc vào sự tất thắng của tự do,  dân chủ và tiến bộ,  tôi cầu chúc tất cả các bạn đang phát dộng cao trào dân chủ ở trong nước một năm mới phấn chấn và thành công trong cuộc đấu tranh chung của chúng ta cho một nước Việt Nam mới, tự do, dân chủ và phồn vinh.

 

Đoàn Viết Hoạt

Hoa Thịnh Đốn, ngày 1.1. 2000

 

THƯ  PHẢN  KHÁNG
Về Hiệp Ước Biên Giới Trung Việt
Gửi Ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc

Ngày 19 tháng 1 năm 2002

 

Kính Gửi:  Ngài Kofi Annan

                 Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc

 

Kính thưa Ngài,

Với tư cách một công dân của cộng đồng quốc tế, và một cựu tù nhân lương tâm Việt Nam, tôi trân trọng gửi đến Ngài lá thư này để phản đối hai Hiệp Ước Biên Giới Lănh Thổ Và Lănh Hải Trung-Việt đă được kư kết ngày 30 tháng 12 năm 1999 và ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ngày 27 tháng 12 năm 2001 những cột mốc đầu tiên đă được xây dựng để bắt đầu tiến tŕnh phân định biên giới kéo dài trong ba năm. Những thỏa thuận biên giới này đe dọa chủ quyền và quyền lợi của Việt Nam, đe dọa ḥa b́nh và ổn định trong khu vực Đông Nam Á.

Hai Hiệp Ước Trung-Việt đi ngược lại quyền lợi của nhân dân Việt Nam v́, lần đầu tiên trong lịch sử hai nước, đường biên giới hợp pháp đă được công nhận từ lâu giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam đă bị thay đổi. Nhiều địa điểm thuộc biên giới đất liền và vùng biển mà từ ngàn năm qua đă được nhân dân Việt Nam bảo vệ nay nằm sâu trong lănh thổ và lănh hải Trung Hoa.

Những hiệp ước này được kư kết bởi những nhà lănh đạo đảng và chính phủ cộng sản không được nhân dân trực tiếp bầu ra, trong đó có cả những người không giữ một chức vụ chính quyền nào. Quốc Hội ở Hà Nội, mà nghe đồn là đă thông qua những hiệp ước này vào tháng 6 năm 2000, cũng không được bầu lên bởi một cuộc bầu cử dân chủ, tự do và công bằng, và do đó không thể đại diện được cho nhân dân Việt Nam. Ngay cả những thủ tục hợp hiến cũng không được tôn trọng, bao gồm những việc như thảo luận công khai trên báo chí hay trong Quốc Hội, và ngay cả nội dung các hiệp ước này cũng không được công bố cho nhân dân Việt Nam được biết trước khi kư kết. 

Ngay cả bản Hiến Pháp hiện hành của Việt Nam cũng được soạn thảo và thi hành hoàn ṭan vi phạm các nguyên tắc và thủ tục căn bản về hiến pháp dân chủ.  Điều này bao gồm tất cả các bản Hiếp Pháp 1960, 1976, 1980, 1990 và bản Hiến Pháp hiện hành. Hậu quả là nhân dân Việt Nam đă bị tước đoạt quyền tín nhiệm và băi miễn những người đại diện họ. Nay họ lại bị tước đoạt quyền có tiếng nói về các bản hiệp ước biên giới trong đó ban lănh đạo cộng sản đă nhượng những phần lănh thổ và lănh hải quan trọng của đất nước để đổi lấy độc quyền chính trị.

Nhân dịp này chúng tôi cũng xin phép để lưu ư Ngài rằng ban lănh đạo cộng sản tại Việt Nam, kể từ thập niên 1950 đến nay, đă liên tục vi phạm, kể cả không thi hành những hiệp ước và công ước mà họ đă kư kết: Hiệp Ước Genève 1954, Hiệp ước Trung Lập Hóa Lào 1960, Hiệp Ước Ba Lê 1973 (được bảo đảm bởi Liên Hiệp Quốc và 13 quốc gia, nhưng bị Bắc Việt Nam vi phạm qua cuộc xâm chiếm miền Nam bằng quân sự tháng 4 năm 1975), Công Ước về Quyền Kinh Tế, Xă Hội và Văn Hóa, và Công Ước về Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ kư kết năm 1982.

Một chính quyền bất hợp pháp, phản dân chủ và vi phạm luật pháp quốc tế như thế không đủ tư cách để nhân danh nhân dân Việt Nam kư kết bất cứ thỏa thuận nào nhượng quyền lănh thổ cho một quốc gia khác. Ngay trong những quốc gia dân chủ, những hiệp ước quan trọng như thế chỉ có giá trị nếu được nhân dân công khai thảo luận và được thông qua bằng một cuộc trưng cầu dân ư.

V́ những lư do trên, những thỏa thuận biên giới Trung-Việt vừa được kư kết là vô giá trị, không được thừa nhận bởi nhân dân Việt Nam, và bất hợp pháp đối với các tiêu chuẩn công pháp quốc tế. Nhân dân Việt Nam không có trách nhiệm thi hành những thỏa thuận này. 

Trong bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải thưởng Nobel Ḥa B́nh Ngài Tổng Thư Kư đă cho rằng nếu các quốc gia vi phạm nền pháp trị và các quyền công dân th́ “những quốc gia này trở thành mối đe dọa không những chỉ cho nhân dân họ, mà cho cả những nước láng giềng, và như thế là cho toàn thế giới.” Ngài cũng tuyên bố rằng ngày nay chúng ta cần có một “chính quyền hợp pháp và dân chủ”. Ngài cũng so sánh việc cứu một “bé gái ở Afghanistan” tương đương với việc cứu nhân loại. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ và đồng t́nh với quan điểm nhân bản rộng lớn đó của Ngài và mong rằng tất cả các dân tộc đều được hưởng phúc lợi từ quan điểm sáng suốt đó của Ngài. Quan điểm này nếu được thực hiện sẽ có ư nghĩa đặc biệt quan trọng đối với 80 triệu nhân dân Việt Nam, một dân tộc mà trong suốt một thế kỷ qua đă luôn mong ước được giải thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu mất tự do, thiếu nhân phẩm và khỏi một chính quyền bất hợp pháp và độc tài.

Kể từ ngày thành lập, Liên Hiệp Quốc cố gắng ǵn giữ ổn định, ḥa b́nh và công lư trên toàn thế giới. Trng những năm gần đây, dưới sự lănh đạo của Ngài, Liên Hiệp Quốc đă đóng góp ngày càng hiệu quả vào việc xây dựng một đời sống tự do và có phẩm giá tại nhiều quốc gia. Chúng tôi hiểu rằng thế giới của chúng ta vẫn c̣n phải đối phó với những khó khăn to lớn và những vấn đề nghiêm trọng, và do đó Ngài và những cộng sự viên của Ngài phải tiếp cận những vấn đề này với nhiều kiên nhẫn, khéo léo và tế nhị. Tuy nhiên v́ nhân loại đă đạt nhiều tiến bộ trong một thời gian đă lâu dài, chúng tôi tin rằng đă đến lúc mà mỗi con người phải được quyền có cơ hội sống trong thịnh vượng, ḥa b́nh, tự do và có nhân phẩm. Chúng tôi tin rằng nếu tất cả những người có lương tri trên trái đất này đều quyết tâm ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực và vi phạm nhân quyền, đồng thời bác bỏ mọi vi phạm luật pháp quốc tế, th́ tất cả chúng ta sẽ bảo vệ được nhân loại để cùng được sống trong ḥa b́nh và công lư.

Chính trong tinh thần đó mà chúng tôi và những đồng hương của chúng tôi đă phản đối những Hiệp Ước Biên Giới Lănh Thổ Và Lănh Hải Trung-Việt do những chính quyền không dân chủ và bất hợp pháp kư kết, không được sự chấp thuận công khai của nhân dân Việt Nam và có hại cho quyền lợi và chủ quyền của quốc gia chúng tôi.

Cũng trong tinh thần này chúng tôi tin tưởng rằng, như đă được tuyên bố trong diễn văn nhận giải Nobel, Ngài sẽ lănh đạo Liên Hiệp Quốc để phát huy dân chủ trên toàn thế giới như là một trong ba công việc ưu tiên của Liên Hiệp Quốc trong những năm tới. Trong đường huớng đó, chúng tôi kêu gọi Ngài hăy ủng hộ việc xây dựng một chính quyền hợp pháp và dân chủ tại Việt Nam để đem lại tự do và nhân phẩm cho mỗi người Việt hôm nay và mai sau, cũng như để bảo vệ ḥa b́nh và ổn định trong khu vực,

 

Trân trọng kính chào Ngài.

 

Đoàn Viết Hoạt

Cựu tù nhân lương tâm Việt Nam

 

 

Bản sao gửi:

 

   - Các nhà lănh đạo các chính phủ

   - Chủ Tịch Ủy Ban Âu Châu

   - Tổng Thư Kư ASEAN

 

 

(Bản Việt ngữ)

Thông Cáo Báo Chí

Sau tám năm bị cầm tù, cuối cùng tôi lại được thành người tự do. V́ bị cầm tù trong hoàn cảnh hầu như hoàn ṭan bị cô lập --bị cô lập ngay cả với những tù nhân khác ở trong trại-- trong suốt bốn năm trời, không sách báo, không tin tức, tôi hiện nay biết rất ít về những ǵ đang xẩy ra ở Việt Nam và trên thế giới. Sức khoẻ của tôi cũng đang bị suy giảm trầm trọng. Do đó tôi cần có một thời gian tịnh dưỡng để lấy lại sức khoẻ đang suy yếu đồng thời cũng để cập nhật hóa thông tin và hiểu biết về t́nh h́nh chính trị hiện nay tại Việt Nam cũng như trên thế giới.

Trong dịp này tôi chỉ xin có mấy ư kiến ngắn sau đây:  

1. Trước hết tôi xin gửi lời cám ơn tới những tổ chức nhân quyền quốc tế, các chính phủ, và nhất là các cộng đồng Việt Nam hải ngoại trong thời gian qua đă không ngừng quan tâm và can thiệp cho tôi.

2. Tôi kêu gọi quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại tiếp tục áp lực chính quyền Cộng sản Việt Nam trả tự do cho tất cả những tù nhân chính trị vẫn c̣n bị giam giữ.

3. Sự giúp đỡ của quốc tế cho Việt Nam sẽ chỉ đóng góp vào việc phát triển đất nước nếu thúc đẩy h́nh thành được một môi trường tinh thần và văn hóa tự do và cởi mở. Không có dân chủ, không có tự do tư tưởng và tự do chính trị th́ mọi giúp đỡ của quốc tế sẽ chỉ vô t́nh đóng góp vào việc làm mạnh thêm chế độ độc tài hiện nay ở Việt Nam.

4. Trong khoảng mười năm nay, những thành quả văn hóa và tinh thần của cộng đồng Việt Nam hải ngoại đă tạo được ảnh hưởng sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân trong nước, kể cả nhiều cán bộ, đảng viên cộng sản. Những thành quả này cũng đang giúp h́nh thành một mặt trận đối kháng tinh thần và văn hóa dù c̣n thầm lặng nhưng mănh liệt giữa toàn dân và ban lănh đạo cộng sản Việt Nam. Tôi kêu gọi cộng đồng Việt Nam hăy đẩy mạnh hơn nữa những hoạt động này trên một tầm mức cao hơn và hiệu quả hơn để giúp tăng cường sức mạnh của mặt trận này và giúp đưa nó từ thế thầm lặng tới thế đối đầu trực diện công khai với ban lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam.

Sau cùng, tôi nguyện sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Ngay khi nào t́nh h́nh cho phép tôi sẽ trở lại Việt Nam để đóng góp vào phong trào quần chúng ở trong nước, vận động cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ và phồn vinh.

Xin cám ơn tất cả quí vị.

 

Los Angeles, ngày 03 tháng 9 năm 1998

Đoàn Viết Hoạt