Chủ nghĩa Mác và
Đảng Cộng sản Việt nam

T́nh h́nh nước ta trong nửa thế kỷ qua gắn liền với sự h́nh thành và phát triển của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Và đây quả là một điều bất hạnh cho dân tộc. Ngày nay nhiều người, kể cả một số cán bộ cộng sản, đă bắt đầu cho rằng phải chăng dân tộc ta không cần phải mất nhiều thời gian, công sức và sinh mạng như thế mới dành được độc lập, mà lại là một thứ độc lập chỉ trên danh nghĩa, hơn nữa lại chỉ để đổi lấy một đất nước nghèo nàn lạc hậu.

Vấn đề này chắc chắn sẽ c̣n phải tranh luận nhiều nhưng có một điều khá rơ là nếu cuộc chiến đấu dành độc lập không bị gắn chặt vào phong trào cộng sản quốc tế do Liên Sô lănh đạo th́ chắc chắn vận mệnh dân tộc ta đă đổi khác đi rất nhiều. Nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia láng giềng của chúng ta, không rơi vào quĩ đạo của cộng sản quốc tế, đă dành được độc lập từ lâu mà không phải mất nhiều thời gian và xương máu như chúng ta. Họ cũng đă có nhiều thời gian và cơ hội hơn để phát triển đất nước, và kết quả là ngày nay họ đă vượt xa chúng ta hàng mấy thập niên. Ngày nay sau hơn hai mươi năm ḥa b́nh và thống nhất, đất nước ta vẫn là một trong những nước nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới, riêng ở Á châu cũng chỉ hơn được Népal. Mà vẫn chưa thấy có triển vọng thoát ra khỏi t́nh trạng tŕ trệ hiện nay. Ai phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc về t́nh trạng đó của đất nước nếu không phải là ban lănh đạo đảng CSVN?

Khách quan mà nói những người Việt Nam yêu nước vào những năm 1930 khi tham gia phong trào cộng sản đều nghĩ rằng chủ nghĩa Mác-Lê là con đường tốt nhất để giải phóng dân tộc vừa khỏi cảnh nô lệ vừa khỏi kiếp sống nghèo đói lạc hậu. Do đó những người khởi xướng phong trào cộng sản tại Việt Nam, đă tích cực vận dụng khối quần chúng nông dân đông đảo, kích động ḷng yêu nước cùng nỗi căm giận v́ cảnh sống khốn cùng của họ, để lôi cuốn họ vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc kéo dài suốt 3 thập niên. Khi hiểu được hậu quả nguy hại do ban lănh đạo đảng Cộng Sản gây ra cho dân tộc, những người yêu nước, trong đó có nhiều người cộng sản, đă không ngừng tranh đấu chống lại đường lối của ban lănh đạo này.

Ngay từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp chưa chấm dứt, vào những năm 1950, 1951, khi ban lănh đạo đảng CSVN, theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, cụ thể là Staline, bắt đầu gắn liền cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào cuộc đấu tranh giai cấp, th́ nhiều trí thức và nhà văn yêu nước đă phải rời bỏ hàng ngũ kháng chiến để tạm lánh sang vùng đất do người Pháp cai trị. Từ đó lực lượng dân tộc bị chia rẽ và t́nh h́nh đất nước bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc tương tranh lưỡng cực quốc tế. Ḷng yêu nước trong sáng của hàng triệu người Việt, kể cả nhiều người cộng sản, đă bị nhóm lănh đạo đảng CSVN lợi dụng để độc chiếm chính quyền và biến nước ta thành tiền đồn cho quốc tế vô sản. Và do đó, khi đất nước c̣n bị chia cắt, ngoài cuộc chiến đấu chống lại cộng sản tại miền Nam, ngay tại miền Bắc dưới chế độ cộng sản, nhiều người cộng sản đă bắt đầu chống đối lại đường lối của ban lănh đạo đảng CSVN. Đặc biệt sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô và khối cộng sản quốc tế tan vỡ, ngày càng có thêm nhiều người cộng sản, trong đó có cả những người đă tham gia đảng CSVN từ mấy chục năm nay, chống đối lại ban lănh đạo đảng CS. Ban lănh đạo đảng CS ngày nay đang đứng trước một chọn lựa sinh tử: hoặc là tan vỡ trong bạo loạn nếu duy tŕ đường lối hiện nay, hoặc là thay đổi thật sự dù có thể dẫn đến mất quyền. Xu thế tiến hóa của dân tộc và của thời đại đều không cho phép ban lănh đạo đảng CSVN có con đường chọn lựa thứ ba.

Thực ra con đường mà ban lănh đạo đảng CSVN, bằng cả bạo lực và mưu kế, muốn đẩy dân tộc vào, đă là con đường cụt ngay trong bản chất và nội dung của chủ nghĩa Mác-Lê. Thực tế đă chứng minh điều đó. Tuy nhiên, phê phán chủ nghĩa Mác một cách căn bản và toàn diện là một việc làm cần thiết v́ chủ nghĩa Mác đă được đảng CSVN tuyên truyền sâu rộng ở Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua. Công việc này cũng cần thiết để làm trong sáng lại bầu không khí chính trị và văn hóa đă bị ô nhiễm bởi chính sách độc quyền của đảng CSVN. V́ thế tôi đang biên soạn một cuốn sách tập chú vào vấn đề này. Tuy nhiên v́ đây là một công việc mang nặng tính chất lư luận, và v́ tính cấp bách của công cuộc vận động cho tự do dân chủ hiện nay, nên ở đây tôi chỉ xin tŕnh bầy một số điểm phê phán tổng quát về chủ nghĩa Mác và về đảng CSVN mà thôi. 

Trước hết về chủ nghĩa Mác. Trong tài liệu soạn thảo và công bố ở trong nước vào giữa năm 1989 với tựa đề Toàn Dân Vận Động Cho Dân Chủ, và được in lại tại hải ngoại dưới tựa đề Thư Quốc Nội đầu năm 1990, tôi đă viết: “Chính sự thành công của CS lại minh chứng cho sự sai lầm của sử quan Mác. Từ sau cách mạng tháng 10 Nga, cách mạng vô sản nổ ra không phải như là một diễn biến nội tại tất nhiên của xă hội tư bản đă chín mùi, mà như là kết quả của bạo lực quân đội và hồng quân Nga, hay của phong trào yêu nước.”[1] Và: “Bản thân chủ nghĩa Mác đă bị tu chính nhiều lần bởi chính các lănh tụ cộng sản quốc tế và cả những nhà lư luận cộng sản Âu Mỹ”.[2]

Chúng ta hăy thử phân tích hai nhận xét này. Trước hết, theo sử quan Duy vật Mác xít th́ lịch sử loài người phải tiến qua giai đoạn tư bản mới lên được giai đoạn cộng sản, v́ chỉ trong xă hội tư bản mới có đủ các yếu tố cần thiết cho cuộc cách mạng vô sản thành công trong đó yếu tố quyết định là giai cấp công nhân công nghiêp có tŕnh độ khoa học và kỹ thuật cao, đồng thời có số lượng đông đảo và tập trung. Chính v́ thế mà Mác mới tiên liệu nước đầu tiên có nhiều khả năng lên cộng sản nhất là nước Anh. Riêng về nước Nga Sa Hoàng Mác đặt ít triển vọng nhất, và cho rằng Nga chỉ có thể thực hiện được cuộc cách mạng vô sản khi có một nước ở Âu Châu đă thành công. Thực tế đă diễn tiến khác hẳn. Nước đầu tiên thành cộng sản lại là nước Nga, một nước mà công nghiệp chưa phát triển. Nước thứ hai là Mông Cổ vẫn c̣n du mục! Các nước Đông Âu thành cộng sản dưới gót dầy xâm lấn của Liên Xô. C̣n các nước khác như Việt Nam đảng CSVN đă thành công nhờ gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc. Trong khi đó, cho tới nay, hơn 150 năm kể từ ngày Tuyên Ngôn Cộng Sản ra đời, chưa hề có một nước tư bản nào thành cộng sản dù đảng cộng sản được hoạt động tự do và công khai. Riêng ở nước Anh, một trong những nước có đảng cộng sản hoạt động sớm nhất trên thế giới, mùa hè năm 1976, Tổng Bí Thư đảng CS Anh từ chức, ra khỏi đảng, và tuyên bố đảng cộng sản không c̣n vai tṛ ǵ nữa trong xă hội Anh!  Sự kiện chấn động thế giới đó đă xẩy ra giữa lúc mà phong trào cộng sản quốc tế do Liên Xô lănh đạo đang bước vào giai đọan phát triển mạnh nhất, và ngay sau khi cộng sản toàn thắng ở Việt Nam. Cũng chính v́ thế nó đă không cảnh tỉnh được ban lănh đạo cộng sản tại Liên Xô, Đông Âu cũng như tại Việt Nam. Nhưng rơ ràng đó là một trong những báo hiệu khởi đầu cho sự sụp đổ của cả khối cộng sản quốc tế xẩy ra hơn một thập niên sau dó.

Về nhận xét thứ hai, chủ nghĩa Mác đă bị xét lại ít nhất hai lần. Lần thứ nhất là Lê-nin. Trong một luận cương về chế độ thuộc địa --tài liệu đă đưa HCM, và sau đó là cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của Việt Nam, vào quĩ đạo của cộng sản đệ tam quốc  tế-- Lê-nin đă tu chỉnh luận điểm quan trọng của Mác là phải tiến qua giai đoạn tư bản mới lên cộng sản được. Theo Lê-nin th́ sở dĩ Mác lư luận như thế v́ vào thời kỳ Mác chủ nghĩa tư bản chưa biến thành chủ nghĩa đế quốc, chưa bành trướng thế lực ra những nước nông nghiệp lạc hậu. Lê-nin cho rằng  phải và có thể phát triển cộng sản ở ngay các thuộc địa của các nước tư bản. Phải v́ có thế mới đánh gục nhanh chóng được chủ nghĩa tư bản tại nơi yếu nhất của nó; và có thể, nếu có một đảng cộng sản dù c̣n non yếu và có sự giúp đỡ của một nước cộng sản anh em. Từ đó Lê-nin đưa ra điểm tu chỉnh quan trọng: có thể tiến lên cộng sản không cần thông qua giai đoạn tư bản. Điều này phù hợp với thực tế là Liên Xô đă tiến lên cộng sản khi vẫn c̣n là một nước nông nghiệp. Nhưng điểm quan trọng là sở dĩ cộng sản thành công tại Liên Xô cũng như tại các nước theo mô h́nh Lê-nin v́ có một tổ chức đảng chặt chẽ với kỷ luật sắt và kỹ thuật hoạt động bí mật cao độ, và một chính quyền chuyên chế tuyệt đối. Kết quả là lịch sử đă bị cưỡng chế chứ không phát triển theo qui luật tất yếu tự nhiên như Mác dự kiến. Và tất nhiên, mọi cưỡng chế cuối cùng đều thất bại, dù đă kéo dài được hơn 70 năm.

Mao trạch Đông là người tu chỉnh chủ nghĩa Mác lần thứ hai.  Lần này Mao tu chỉnh chính qui luật căn bản của học thuyết Mác: luật mâu thuẫn. Mao tŕnh bầy luận điểm của ông ta trong một tài liệu mỏng nhưng quan trọng mang tựa đề Mâu Thuẫn Luận. Ngay trong câu mở đầu Mao đă xác định rằng luật mâu thuẫn chính là luật đối lập thống nhất. Mao cho rằng mâu thuẫn phải được t́m hiểu và vận dụng trong bối cảnh diễn tiến của thực tại.  Và trong quan hệ với thực tại như thế mâu thuẫn có thể diễn tiến dưới nhiều h́nh thái khác nhau. Có mâu thuẫn lâu dài, có mâu thuẫn tạm thời; có mâu thuẫn chính, có mâu thuẫn phụ. Hơn thế nữa một mâu thuẫn có thể là chính vào lúc này trong trường hợp này lại có thể trở thành phụ vào lúc khác trong trường hợp khác. Áp dụng vào các vấn đề chính trị và cách mạng của Trung Hoa lúc bị Nhật xâm lăng, Mao cho rằng mâu thuẫn chính lúc đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Trung Hoa và bọn quân phiệt xâm lược Nhật Bản, c̣n mâu thuẫn Quốc-Cộng là mâu thuẫn phụ. Do đó Mao đưa ra chủ trương Quốc-Cộng liên minh kháng Nhật. Vào thập niên 60, khi Trung Quốc chống lại ư đồ khống chế của Liên Sô, Mao cho rằng mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc là mâu thuẫn chính và mâu thuẫn giữa Trung Quôc và Mỹ là mâu thuẫn phụ, nên đưa ra khẩu hiệu: “Bắc cự Liên Xô, Đông ḥa Mỹ quốc, cận thân Nhật Bản”. Trên b́nh diện toàn cầu th́, trong khuôn khổ của học thuyết mâu thuẫn mới đó, Mao đưa ra thuyết ba thế giới: thế giới thứ nhất gồm hai siêu cường Nga-Mỹ, thế giới thứ hai gồm các nước công nghiệp phát triển, và thế giới thứ ba gồm tất cả các nước kém phát triển. Trung Quốc đứng về khối các nước thuộc thế giới thứ ba, tất nhiên với ư định liên kết các nước này, t́m sự hỗ trợ của các nước phát triển để đánh đổ hai siêu cường Nga-Mỹ. Với quan điểm tu chính rất thực tế như thế, qui luật mâu thuẫn của Mác đă mất đi tính chất đấu tranh giai cấp và mang nặng tính chất dân tộc sinh tồn Đại Hán vốn có của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Đường lối Đại Hán hiện đại này được vận dụng trong chính sách “hiện đại hóa” do Đặng Tiểu B́nh đưa ra và trong kế hoạch xây dựng “chủ nghĩa xă hội mang mầu sắc Trung Quốc” của ban lănh đạo cộng sản Trung Quốc hiện nay.

Đấy là hai lần tu chỉnh chủ nghĩa Mác ngay tại những nước cộng sản. C̣n tại những nước tư bản, v́ là những nước tự do, đảng cộng sản được hoạt động công khai nên chủ nghĩa Mác lại càng biến thể nhanh chóng và mạnh mẽ hơn nữa, từ lư luận căn bản tới phương pháp hoạt động. Trong khi những đảng cộng sản chính thống tại các nước nhỏ do Liên Xô hay Trung Cộng chi phối th́ chủ trương hoạt động cách mạng bạo động và lật đổ th́ tại các nước Âu Mỹ các đảng cộng sản hoạt động bất bạo động, công khai và hợp pháp bằng phương pháp tranh cử và đấu tranh nghị trường. Năm l976 Liên Xô triệu tập được Đại Hội Cộng Sản toàn Âu Châu taị Varsovie sau hơn hai năm chuẩn bị. Lần đầu tiên Nam Tư đồng ư tham dự với điều kiện phải chấp nhận quan điểm dân tộc của họ. Hai đảng Cộng Sản Pháp và Ư cũng đồng ư tham dự sau khi Liên Xô chấp nhận để cho đại diện hai đảng CS này đọc trọn vẹn bài phát biểu của họ. Theo như nhận xét của dài BBC khi tường thuật về Đại hội này th́ hai bài thuyết tŕnh của hai đảng CS Pháp và Ư là hai quả bom nổ tại Đại Hội. Cả hai đảng đều đưa ra ba quan điểm giống nhau: bác bỏ đấu tranh giai cấp, bỏ chuyên chính vô sản và không chấp nhận một trung tâm quyền lực cộng sản quốc tế. Sau khi Liên Xô sụp đổ và khối Cộng sản quốc tế tan vỡ th́ các đảng cộng sản này cũng như hầu hết các đảng cộng sản khác trên thế giới đều lần lượt suy yếu hoặc phải đổi tên thành các đảng dân chủ xă hội.

Tại sao phong trào cộng sản quốc tế đă một thời phát triển rộng khắp các nơi  lại tan ră nhanh chóng như thế? Phải chăng tại v́ những sai lầm trong hàng ngũ lănh đạo của đảng cộng sản Liên Xô? Và phải chăng t́nh trạng hiện nay chỉ là bước thoái trào tạm thời của phong trào cộng sản quốc tế như những nhà lư luận cộng sản VN đang cố giải thích để làm yên ḷng những đảng viên đang lung lay niềm tin của họ? Có thể là như thế, thậm chí một số đảng cộng sản được phục hồi tại Nga và một số nước khác có thể trở lại cầm quyền. Nhưng phong trào cộng sản quốc tế sẽ không bao giờ có thể phục hồi lại được như trước nữa, v́ ngay tại mỗi nước mà đảng cộng sản có thể trở lại nắm được quyền hành th́ chế độ chính trị tại những nơi đó đă và sẽ vẫn là một chế độ tự do dân chủ, trong đó mọi đảng phái đều được quyền hoạt động tự do và b́nh đẳng, và trong đó người dân, chứ không phải bất cứ đảng nào, kể cả và nhất là đảng cộng sản, có quyền quyết định chọn lựa những người lănh đạo đất nước. Đảng cộng sản vẫn có thể, và luôn luôn vẫn có quyền tồn tại như bất cứ đảng chính trị nào khác, nếu vẫn có người theo. Nhưng chế độ cộng sản th́ không bao giờ có thể phục hồi lại được, chế độ cộng sản hiểu theo ư nghĩa với ba nội dung cụ thể: độc quyền về văn hóa tư tưởng, độc đảng về chính trị, và kinh tế chỉ huy ưu tiên cho quốc doanh và tập thể. C̣n những lư tưởng mà Mác muốn thực hiện, tức là b́nh đẳng, tự do, hạnh phúc, không c̣n nguời bóc lột người, các dân tộc sống chan ḥa với nhau…th́, trước hết, đó không phải là lư tưởng đặc thù riêng của Mác, mà của bất cứ ai có lương tri trên trái đất này; hơn nữa, những lư tưởng đó đă và đang được thực hiện không phải bởi phương thức do Mác đề ra, mà bởi những phương thức mà Mác muốn loại bỏ. Và không phải những bởi những đệ tử của Mác mà bởi chính những người mà Mác cho rằng phải tiêu diệt. 

Đúng như thế. Xă hội tư bản có rất nhiều điều bất cập, cần phải được phê phán và sửa đổi, không những trước đây, bây giờ, mà c̣n măi măi không ngừng, như là qui luật chung đối với bất cứ h́nh thái xă hội nào khác. Nhưng xă hội tư bản có một đặc tính quan trọng mà xă hội cộng sản không có: đó là tự do. Sự tự do đó cho phép con người sửa đổi được cả bản thân con người lẫn những cơ chế xă hội mà con người đặt ra. Và điều đáng nói hơn thế nữa là sự tự do đó đă cho phép mỗi cá nhân điều chỉnh ngay chính cả sự tự do của ḿnh! Để nhờ đó đă có thể chuyến đổi từ thời kỳ tư bản bóc lột -- với sự tự do cạnh tranh theo kiểu rừng rú, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, lợi nhuận cá nhân trên lợi ích công cộng-- sang được thời kỳ tư bản xă hội hóa ngày nay, với các biện pháp về luật lệ và thuế má, ngăn ngừa độc quyền kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của người dân b́nh thường, cũng là người tiêu thụ, đồng thời vẫn bảo đảm được môi trường cạnh tranh tự do, b́nh đẳng, thúc đẩy tiến bộ.

Chế độ cộng sản không những đă tước đoạt mất của mỗi con người, mỗi người dân sự tự do và tự chủ, vốn là đặc tính vô cùng quí báu trong bản chất của loài người. Tệ hơn, nó c̣n triệt tiêu cả cơ hội xây dựng và phát triển sự tự do điều chỉnh và kiểm tra tự động lẫn nhau của chính cơ chế xă hội. Bản thân Mác và những người theo ông tự cho ḿnh đă t́m ra được chân lư và qui luật duy nhất đúng về sự h́nh thành và phát triển của con người và xă hội. Họ đă tự cho ḿnh cái quyền triệt tiêu mọi cơ hội cho sự t́m ṭi và phát triển chân lư và quy luật khác. Họ đă thiết lập nên một cơ chế xă hội sơ cứng, máy móc và tàn bạo, nuôi người và trị người như sắt với muối trong pḥng thí nghiệm, như ong với kiến ngoài thiên nhiên. Kết quả là cơ chế xă hội đó phải bị chính con người trong cơ chế đó đào thải, và trong thực tế chế độ cộng sản đă bị sụp đổ bởi chính những người cộng sản đă tỉnh ngộ, và ngay tại chính trung tâm quốc tế của nó.

Lư do căn bản của sự sai lầm tai hại này chính v́ Mác cho rằng con người được tự nhiên (Nature) và xă hội qui định trước khi có thể qui định lại tự nhiên và xă hội, đồng thời môi trường xă hội là yếu tố quyết định không những bản thân mỗi cá nhân mà ngay cả hành sử của mỗi cá nhân với người khác và với thiên nhiên. Bị ảnh hưởng bởi những khám phá c̣n rất thô sơ của khoa học tự nhiên và khoa học xă hội vào giữa thế kỷ XIX, Mác đă không thấy rằng con người từ tự nhiên mà ra, cũng thuộc loài sinh vật, nhưng lại được thiên nhiên phú bẩm cho khả năng đặc thù. Đó là khả năng tách ra khỏi tự nhiên, điều chỉnh lại tự nhiên và xây dựng lại cuộc sống chung để chuyển từ bầy đoàn theo tự nhiên sang xă hội loài người, khác với bầy đoàn ong kiến.

Sự khác biệt đó giữa con người với thiên nhiên và với các loài sinh vật khác là một sự khác biệt rất căn bản và quyết định. Nó giải thích không những tại sao con người không ngừng tiến hoá mà tiến hóa ngày một nhanh hơn và nhiều hơn. Nó cũng cho thấy không những xă hội là sản phẩm không ngừng được cải tiến bởi con người và cho con người, mà ngay cả tự nhiên có con người can thiệp vào cũng không ngừng được cải tiến bởi con người và cho con người, khác hẳn với khu vực tự nhiên chưa có sự khám phá và can thiệp của con người --kể cả tự nhiên ngoài vũ trụ lẫn tự nhiên trong mỗi con người và trong xă hội (các hiện tượng tự phát). Khoa học tự nhiên và khoa học xă hội, qua nhiều ngành nghiên cứu ngày một đa dạng và vi tế hơn, đă và đang đạt được những khám phá sâu rộng về tự nhiên và xă hội. Những khám phá này cung cấp cho nhân loại những kiến thức, khả năng và khí cụ thực tiễn để cải thiện ngày một hữu hiệu hơn mọi mặt đời sống con người, từ cá nhân, tới xă hội và toàn thể nhân loại.

Tất nhiên khoa học thời Mác chưa thể cung cấp cho Mác những hiểu biết chính xác và vi tế về tự nhiên, con người và xă hội. Do đó, Mác đă có những nhận định sai lầm căn bản về tính chất đặc thù cũng như mối quan hệ hỗ tương của ba phạm trù tư duy nền tảng này. Những nhận thức sai lầm đó đă dẫn tư tưởng Mác xa rời thực tại đời sống con người. Và khi, bằng độc đoán và bạo lực, đem áp đặt những sai lầm này vào việc xây dựng đời sống con người, các đệ tử của Mác đă gây nên bao đau khổ cho hàng triệu cá nhân, và hàng chục dân tộc. Sai lầm văn hóa quả đă gây tác hại muôn đời.

Hồ Chí Minh và các đệ tử tài giỏi của ông khi đem chủ nghĩa Mác-Lê truyền bá vào Việt Nam đă tạo được khí thế mới cho cuộc chiến đấu dành độc lập dân tộc lúc đó đang bế tắc. Họ đă thành công trong việc gắn liền nỗi nhục mất nước vào cảnh cùng khổ của người dân, đặc biệt là nông dân. Nhờ đó đă kích động và lôi cuốn được đa số nhân dân, những người không có ǵ để mất, ngoài chính sinh mạng vốn đă rất khốn khổ của họ. Nhưng, cũng giống như sự thành công của Lê-nin ở Nga Sa-Hoàng đă chứng thực cho sự sai lầm của sử quan Mác, sự thành công của Hồ Chí Minh và đảng CSVN đă chứng thực cho sự nguy hại của mô h́nh chính trị và kiến thiết của Lê-nin và đệ tử của ông, đặc biệt là Staline. Việt Nam vào đầu thế kỷ XX là một nước lầm than nghèo khổ, mất chủ quyền và không có tự do. Việt Nam vào cuối thế kỷ XX vẫn không có tự do và vẫn lầm than nghèo khổ vào loại nhất nh́ thế giới. Nền độc lập đă dành được sau ba thập niên chiến tranh, chết chóc và đổ nát, chẳng c̣n mấy ư nghĩa khi người dân vẫn nghèo khổ và vẫn chưa có quyền tự do quyết định vận mệnh chung của đất nước và vận mệnh riêng của ḿnh. Đảng CSVN đă thành công trong việc dành được độc quyền cai trị đất nước nhưng nhân dân Việt Nam đă thất bại trong việc tranh đ̣i lại độc lập, tự do và hạnh phúc chân chính cho ḿnh và cho dân tộc.

Ngày nay, sau hơn 20 năm nắm trọn vẹn quyền cai trị toàn thể đất nước, đảng CSVN đă thất bại trong việc thực hiện những hứa hẹn mà họ đă đưa ra khi kích động dân chúng lao vào cuộc chiến tranh khốc liệt. Trước sự đổi thay to lớn của t́nh h́nh thế giới ngoài sự dự liệu của tất cả những người cộng sản trên thế giới, đảng CSVN đă dần dần mất đi những thế mạnh của họ. Năm 1990 tôi đă phân tích thực trạng này như là tiền đề cho cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam[3]. Ở đây tôi chỉ xin nói tóm lược lại như sau.

Chế độ cộng sản có ba sức mạnh. Sức mạnh thứ nhất là chi phối dạ dầy, bao tử của người dân qua nền kinh tế chỉ huy, qua kinh doanh độc quyền và chế độ tem phiếu, phân phối lương thực thực phẩm. Nền kinh tế thị trường tước mất của đảng thế mạnh này. Chính v́ vậy mà chính quyền cộng sản ở Việt Nam đă t́m cách vừa áp dụng những lợi điểm của kinh tế thị trường, vừa duy tŕ khu vực quốc doanh để bảo vệ phần nào thế mạnh của đảng. Tuy nhiên áp lực của t́nh thế “tụt hậu” và của xu thế kinh tế thương mại tự do toàn cầu ngày càng đẩy lùi các yếu tố cuối cùng c̣n sót lại của nền kinh tế quốc doanh và đang tước hết vũ khí kinh tế của đảng CSVN. 

Sức mạnh thứ hai là cầm nắm đầu óc và tư tưởng của người dân thông qua độc quyền văn hóa, thông tin và tư tưởng. Tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do truyền thông sẽ phá vỡ sức mạnh này. Trước xu thế toàn cầu hóa, trước sức mạnh không thể cản nổi của cuộc cách mạng thông tin điện tử hiện nay và tương lai, không một quốc gia nào có thể chống lại được chính sách mở cửa, chấp nhận tự do giao thương, tự do truyền thông, giao lưu văn hóa. Độc quyền văn hóa, tư tưởng, ngôn luận, thông tin của đảng CS hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng. Ngày càng có nhiều người ở trong nước, kể cả những cán bộ cộng sản, đứng lên công khai đ̣i quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin. Internet, và các chương tŕnh phát thanh bằng tiếng Việt của các đài quốc tế, mà ngày nay không c̣n cấm đoán được nữa, đang ngày càng tác động lên người dân, và cả đảng viên. Họ đang được mở rộng tầm nh́n ra thế giới và nhân loại, nhất là giới trẻ, hiện chiếm hơn một nửa dân số. Họ đang có nhiều cơ hội tiếp cận với những hiểu biết và tư tưởng ngày một phong phú và mới lạ hơn, làm cho chủ nghĩa Mác và những thông tin tuyên truyền của đảng mất hết sức mạnh độc quyền trước đây. 

Sức mạnh thứ ba của chế độ cộng sản là tổ chức đảng và công an. Đây là khu vực mà tới nay ban lănh đạo đảng CS vẫn c̣n sử dụng được khá hữu hiệu để bảo vệ chế độ. Tuy nhiên ngay sức mạnh này cũng đang bị thử thách nghiêm trọng trước áp lực của t́nh thế và của can thiệp quốc tế, và trước ngay sự lung lay niềm tin và hủ hóa của các cán bộ đảng viên. Hơn nữa các yếu tố tương phản ngày càng gia tăng ngay trong ḷng chế độ: những mâu thuẫn nông thôn-thành thị, giầu-nghèo, trí thức-lao động, Bắc-Nam, CS-không CS, bảo thủ-cấp tiến, thật tâm v́ nước-chỉ v́ tư lợi, tôn giáo-CS... Trước thực tế đó, và với những diễn biến kinh tế xă hội cả quốc nội lẫn quốc tế ngày một gia tốc, bạo lực đảng trị và công an trị c̣n được sức mạnh đến mức độ nào và trong bao lâu nữa? Đảng CS c̣n có khả năng chủ động và kiểm soát diễn biến của xă hội như họ muốn được đến mức độ nào so với 10 năm trước và 5 năm sắp tới?

Trong khi đó th́ đất nước ngày càng trẻ hơn, với gần 50% dân số dưới 40 tuổi. Thành phần này không bị ám ảnh bởi quá khứ, dễ dàng lột xác, tiếp thu những yếu tố mới từ ngoài vào. Đất nước th́ ngày càng phải mở cửa nhiều hơn với thế giới. Các nước lớn luôn luôn vừa xâm nhập thị trường để buôn bán, vừa tăng cường ảnh hưởng. Họ tác động từ các lănh vực phi chính trị (kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục...) sang dần các lănh vực chính trị, mà trung chuyển là thông tin, văn hóa, giáo dục và tư tưởng. Từ kinh tế, thương mại, tài chánh tạo chỗ đứng và tiếng nói, chuyển sang tác động đến các lănh vực khác như luật pháp, hành chánh công quyền, ngân sách quốc gia, rồi quan hệ giữa đảng với chính quyền...Các vấn đề nhân quyền được sử dụng như những áp lực phụ trợ cho tiến tŕnh diễn biến ḥa b́nh từ độc tài sang dân chủ. Ban lănh đạo CSVN chống lại diễn biến này, nhưng trong thực tế chính họ đang phải đứng trước sự chọn lựa khó khăn: hoặc là sụp đổ trong bạo loạn hoặc là chấp nhận thực hiện tiến tŕnh chuyển đổi ôn ḥa đó.

Tổng hợp mọi mặt của t́nh h́nh thực tế hiện nay th́ nước ta bắt buộc phải chuyển từ độc tài, độc quyền sang tự do dân chủ trên tất cả mọi mặt của đời sống xă hội, từ kinh tế tới văn hóa, tư tưởng, thông tin, tôn giáo và chính trị. Đây là xu thế bắt buộc không thể đảo ngược được, vượt khỏi ư muốn chủ quan của ban lănh đạo đảng cộng sản. Tuy nhiên đất nước có chuyển nhanh được hay không và hoà b́nh được hay không c̣n tùy thuộc nhiều yếu tố. Các yếu tố này nằm trong mối tương quan vừa đối kháng vừa hỗ tương sau đây: trong nước-ngoài nước, trong đảng-ngoài đảng, kinh tế-văn hóa-chính trị, an ninh trong nước-an ninh khu vực, trẻ-già, Bắc-Nam, tôn giáo-đảng... Cần phân tích khách quan và đầy đủ các yếu tố này để dự liệu diễn biến t́nh h́nh theo một trong ba hướng dưới đây.

1/ Diễn biến ḥa b́nh: chỉ xẩy ra được nếu ban lănh đạo đảng CSVN chủ động thực hiện chuyển đổi sang dân chủ, tất nhiên dưới áp lực của t́nh thế và của bên ngoài, đồng thời có đủ nhân sự lănh đạo có bản lănh và tâm huyết muốn và dám thực hiện. Cho đến nay chúng ta chưa thấy có đủ các điều kiện đó.

2/ Bạo loạn và bị lật đổ: khả năng này lúc nào cũng âm ỷ, trong quá khứ đă từng xẩy ra, nhưng có đủ mạnh để lật đổ được chế độ hay không, th́ tới nay chúng ta vẫn chưa thấy. Tuy nhiên chúng ta cần theo dơi sát t́nh h́nh, đặc biệt là ở nông thôn miền Bắc và miền Trung, và ở các thành phố lớn. Chúng ta cần xem cái khoảng cách giữa khát vọng dân sinh của quần chúng với chính sách đường lối của chính quyền có thu hẹp được không hay ngày càng cách xa để có thể dẫn đến mâu thuẫn xung đột và bùng nổ. Trường hợp này bao gồm cả đảo chánh nội bộ.

3/ Chiến tranh khu vực, liên quan tới sự bành trướng thế lực của Tầu. Không nên coi nhẹ khả năng này v́ cho tới nay chưa thấy có một cơ chế quốc tế nào có triển vọng giải quyết được một cách nền tảng và vững chắc t́nh trạng căng thẳng tại vùng biển Hàn quốc, Đài Loan, vùng biển Đông, và cả khu vực Nam Á (Pakistan-Ấn Độ). Chiến tranh cũng là cơ hội để giải quyết cả vấn đề chế độ cộng sản tại khu vực này, lẫn vấn đề riêng của nước ta với Trung Hoa. Tất nhiên đây là phương cách xấu nhất, không ai mong muốn, dù không thể loại trừ khả năng có thể xẩy ra.

Ban lănh đạo đảng CSVN hiện đang phải đối diện với những vấn đề sinh tử không những riêng cho đảng CS mà cho cả tương lai đất nước. Họ phải chịụ trách nhiệm về việc đă đưa dân tộc vào con đường cụt cộng sản. Và ngày nay họ cũng có trách nhiệm trước lịch sử và dân chúng từ bỏ con đường cụt này để mở đường thoát cho dân tộc. Hầu hết những nhà lănh đạo tại các nước cộng sản trên thế giới đă có can đảm đó và nhờ vậy dân tộc họ đă ḥa nhập được vào ḍng tiến hóa chung của nhân loại.  Ban lănh đạo CSVN cũng phải có đủ can đảm như thế, và cần mau chóng cùng những người yêu nước trong nước cũng như hải ngoại thực hiện một cuộc đối thoại dân tộc, trong tinh thần tôn trọng khác biệt để cùng nhau t́m giải pháp thoát khỏi t́nh trạng bế tắc hiện nay của đất nước trước khi nguy cơ rối loạn xă hội bùng nổ không ǵ ngăn cản được. Những nhà lănh đạo đảng CSVN hiện nay không có con đường lựa chọn nào khác nếu không muốn bị lịch sử và toàn dân đào thải ra khỏi tiến tŕnh phát triển tương lai của đất nước.

 

(4.1999



[1] Đoàn Viết Hoạt Và Nhóm Diễn Đàn Tự Do. The Case of Freedom Forum.  California: Trăm Hoa, 1993, tr. 38.

[2] Sđd, tr. 39.

 

[3]  Sđd, tr. 30-32.