Từ Cái Chết Của Trần Độ
Đến Tương Lai Đảng CS Việt Nam

Hiện nay cuộc vận động dân chủ ở trong nước đă trở nên công khai và do nhiều cán bộ, đảng viên cộng sản lăo thành và trí thức trẻ chủ trương. Cựu trung tướng Trần Độ, trong nhiều năm nay, từ một cán bộ lănh đạo cộng sản cao cấp, đă trở thành một người tiêu biểu cho phong trào dân chủ trong nước. Ngày 9 tháng 8 vừa qua ông đă qua đời sau nhiều tháng lâm trọng bệnh. Cái chết của ông là một mất mát to lớn cho phong trào dân chủ trong nước, cũng như cho những người cộng sản lăo thành. Tiếng nói phản kháng của ông không những giúp đẩy cuộc vận động dân chủ trong nước sang một giai đọan vững mạnh, mà c̣n ảnh hưởng to lớn đến chính đảng cộng sản. Tôi tin rằng ông Trần Độ đă nêu một tấm gương sáng cho những người cộng sản chân chính. Tôi muốn nhấn mạnh chữ “chân chính” với ư nghĩa là theo cộng sản v́ lư tưởng, chứ không phải v́ danh lợi. Những người cộng sản chân chính tất nhiên không thể làm ngơ khi thấy rằng con đường cộng sản mà họ đă tin theo nay trở thành con đường bế tắc, và những người lănh đạo họ nay đang phản lại chính những lư tưởng mà v́ đó họ đă tận tụy hy sinh. Tôi tin rằng cái chết của ông Trần Độ sẽ tạo một khúc quanh mới không những cho phong trào dân chủ trong nước, mà cho chính phong trào cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Những người dân chủ trong nước, bất luận xuất thân từ quá khứ nào, đang có những thuận lợi chính trị và tư tưởng để đẩy cuộc vận động dân chủ sang một giai đọan công khai có tổ chức. C̣n những người cộng sản, đồng t́nh hay không đồng t́nh với đường lối lănh đạo hiện nay, đều đang phải đối diện với những thách đố nghiêm trọng cho tương lai của đảng cộng sản nói riêng và con đường phát triển đất nước theo chủ nghĩa cộng sản nói chung. Bản thân cái chết “không thanh thản” của một người cộng sản lăo thành như Trần Độ là một thách đố cho tương lai của chính đảng cộng sản và chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.

T́nh h́nh nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua gắn liền với sự h́nh thành và phát triển của đảng CSVN. Mà đất nước thân yêu của chúng ta, trong hơn nửa thế kỷ qua, là một đất nước đầy bom đạn, chết chóc, hận thù, nghèo nàn lạc hậu và độc đoán. Từ 1975 tới nay, bom đạn đă hết nhưng hận thù, lạc hậu và độc đoán vẫn c̣n. Đó là một điều bất hạnh lớn cho dântộc. Nếu có thể “làm lại” được lịch sử chắc chúng ta không ai muốn đất nước phải trải qua một thời kỳ bi thương như thế. Phải chăng những thắng lợi vinh quang của đảng cộng sản đă không phải là những vinh quang thắng lợi của dân tộc? Vấn đề này chắc chắn sẽ gặp nhiều tranh luận nhưng càng ngày càng nhiều người tin rằng nếu cuộc chiến đấu dành độc lập không bị cột chặt vào phong trào CS quốc tế th́ vận mệnh dân tộc ta đă đổi khác đi rất nhiều. Tôi chia sẻ những suy nghĩ như thế. Nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia láng giềng của chúng ta, không rơi vào quĩ đạo của CS quốc tế, đă dành được độc lập từ lâu mà không phải mất nhiều thời gian và xương máu như chúng ta. Họ cũng đă có nhiều thời gian và cơ hội hơn để phát triển đất nước, và kết quả là ngày nay họ đă vượt xa chúng ta hàng mấy thập niên.

Khách quan mà nói những người Việt Nam yêu nước vào những năm 1930, 1940, trong đó có Trần Độ, khi tham gia phong trào CS đều nghĩ rằng chủ nghĩa Mác-Lê là con đường tốt nhất để giải phóng dân tộc, vừa khỏi cảnh nô lệ vừa khỏi kiếp sống nghèo đói lạc hậu. Do đó những người khởi xướng phong trào cộng sản tại Việt Nam đă tích cực vận động khối quần chúng nông dân đông đảo, kích động được ḷng yêu nước cùng nỗi căm giận v́ cảnh sống khốn cùng của họ, để lôi cuốn họ vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc kéo dài suốt 3 thập niên. Khi hiểu được hậu quả nguy hại do ban lănh đạo đảng CS gây ra cho dân tộc, những người yêu nước, trong đó có những người quốc gia không cộng sản và cả nhiều người CS, đă không ngừng tranh đấu chống lại đường lối của ban lănh đạo cộng sản.

Ngay từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp chưa chấm dứt, vào những năm 1950, 1951, khi Hồ Chí Minh, theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, cụ thể là của Staline, bắt đầu gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào cuộc đấu tranh giai cấp qua chính sách “cải cách ruộng đất”, th́ nhiều trí thức và nhà văn yêu nước đă phải rời bỏ hàng ngũ kháng chiến để tạm lánh sang vùng đất do người Pháp cai trị. Từ đó lực lượng dân tộc bị chia rẽ và t́nh h́nh đất nước bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc tương tranh lưỡng cực quốc tế. Ḷng yêu nước trong sáng của hàng triệu người Việt, kể cả nhiều người cộng sản, đă bị ban lănh đạo đảng cộng sản lợi đụng để độc chiếm chính quyền và biến nước ta thành tiền đồn cho quốc tế vô sản. Và do đó, khi đất nước c̣n bị chia cắt, ngoài cuộc chiến đấu chống lại cộng sản tại miền Nam, ngay tại miền Bắc dưới chế độ cộng sản, nhiều người, cả cộng sản và không cộng sản, đă bắt đầu chống đối lại đường lối của ban lănh đạo đảng CSVN.[1] Đặc biệt, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô và khối cộng sản đệ tam quốc tế tan vỡ, ngày càng có thêm nhiều người cộng sản lăo thành chống đối lại đường lối của ban lănh đạo đảng CSVN.

Thực ra con đường mà ban lănh đạo đảng CS, bằng cả bạo lực và mưu kế, muốn đẩy dân tộc vào, đă là con đường cụt ngay trong bản chất và nội dung của chủ nghĩa Mác-Lê. Thực tế đă chứng minh điều đó. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác đă được đảng CS tuyên truyền sâu rộng ở Việt Nam suốt thời gian mấy chục năm qua. Nó đă tác động khá sâu đậm vào phương pháp tư duy và làm việc của nhiều thế hệ. Do đó việc phê phán chủ nghĩa Mác một cách căn bản là cần thiết để làm trong sáng lại bầu không khí chính trị và văn hóa đă bị ô nhiễm bởi chính sách độc tôn văn hóa và chính trị của ban lănh đạo đảng CSVN. Đây là một công việc mang nặng tính chất lư luận, và đ̣i hỏi nhiều công sức. Nó cần được thực hiện trong tinh thần thân ái, cởi mở, và khách quan, đặt quyền lợi dân tộc lên trên mọi tranh chấp phe phái nhằm hóa giải mọi khuynh hướng độc tôn tư tưởng đă và vẫn đang làm vẩn đục bầu khí chính trị và văn hóa ở Việt Nam suốt nhiều thập niên qua. Trong tinh thần đó, những yếu kém và sai lầm của mọi phía, kể cả phía quốc gia không cộng sản, đều cần được kiểm điểm một cách nghiêm chỉnh. V́ phạm vi bài viết này liên quan đến đảng cộng sản nhân cái chết của ông Trần Độ nên tôi tập trung thảo luận về con đường cộng sản tại Việt Nam, thảo luận nhằm t́m giải đáp cho vấn đề căn bản nhất của dân tộc chúng ta, đó là vấn đề văn hóa tư tưởng. Đây là vấn đề chung của dân tộc, không phải riêng của phe quốc gia hay phe cộng sản. Do đó, mọi cố gắng để nhận xét và phê phán bất cứ một trào lưu tư tưởng nào trong giai đoạn phát triển hiện nay và tương lai của đất nước để giải quyết vấn đề văn hóa tư tưởng này đều cần thiết, và phải là công việc chung của tất cả những ai quan tâm tới tiền đồ đất nước, dù xuất phát từ quá khứ và quan điểm chính trị khác biệt nhau như thế nào.

Tôi cho rằng dân tộc ta không thể phục hưng và phát triển bền vững và tương xứng với tiềm năng và bề dầy lịch sử nếu không định hướng và định h́nh được con đường phát triển của đất nước trong thế kỷ mới. Khi du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam những người cộng sản đă tin rằng đây là con đường tốt đẹp nhất cho dân tộc. Ngày nay đường hướng đó đă tan vỡ trên toàn thế giới. Nhưng một mặt, vẫn c̣n những người cộng sản tin rằng đây chỉ là giai đoạn “thoái trào” của phong trào cộng sản thế giới. Mặt khác, ngay cả khi đă thấy rơ đường lối cộng sản không c̣n thích hợp, việc đi t́m một định hướng mới cho dân tộc lại càng trở nên cấp thiết. Do đó, nh́n lại chủ nghĩa Mác và con đường cộng sản Việt Nam nhân cái chết của một cựu đảng viên cộng sản lăo thành không phải nhằm công kích hay phê phán, mà nhằm rút tỉa kinh nghiệm, và nhất là nhằm cùng nhau suy tư về một con đường mới để phát triển đất nước trong thiên niên kỷ mới.  Hiện nay, v́ tính cấp bách của công cuộc vận động cho tự do dân chủ, nên ở đây tôi chỉ xin tŕnh bầy một số điểm nhận xét tổng quát về chủ nghĩa Mác và về đảng CSVN nhân dịp tưởng nhớ đến ông Trần Độ.

Trước hết về chủ nghĩa Mác. Trong tài liệu soạn thảo và công bố ở trong nước vào giữa năm 1989 với tựa đề Toàn Dân Vận Động Cho Dân Chủ, và được in lại ở hải ngoại vào giữa năm 1990 với tựa đề Thư Quốc Nội, tôi đă viết:

“Chính sự thành công của CS lại minh chứng cho sự sai lầm của sử quan Mác. Từ sau cách mạng tháng 10 Nga, cách mạng vô sản nổ ra không phải như là một diễn biến nội tại tất nhiên của xă hội tư bản đă chín mùi, mà như là kết quả của bạo lực quân đội và hồng quân Nga, hay của phong trào yêu nước.”[2] Và: “Bản thân chủ nghĩa Mác đă bị tu chính nhiều lần bởi chính các lănh tụ cộng sản quốc tế và cả những nhà lư luận cộng sản Âu Mỹ”.[3]

Chúng ta hăy thử phân tích hai điểm nhận xét này. Trước hết, theo sử quan duy vật Mác-xít th́ lịch sử loài người phải tiến qua giai đọan tư bản mới lên được giai đọan cộng sản, v́ Mác cho rằng chỉ trong xă hội tư bản công nghiệp hóa mới có đủ các yếu tố cần thiết cho cuộc cách mạng vô sản thành công với thành phần công nhân công nghiệp có tŕnh độ khoa học và kỹ thuật cao, và có số lượng đông đảo và tập trung. Chính v́ thế mà Mác mới tiên liệu nước có nhiều khả năng lên cộng sản nhất là nước Anh. Riêng về nước Nga Sa Hoàng Mác đặt ít triển vọng nhất.  Thực tế đă diễn tiến khác hẳn. Nước đầu tiên thành cộng sản lại là nước Nga, một nước mà công nghiệp chưa phát triển. Nước thứ hai là Mông Cổ khi thiết lập chế độ cộng sản th́ vẫn c̣n du mục! Các nước Đông Âu thành cộng sản dưới gót dầy xâm lấn của hồng quân Liên Xô. C̣n các nước khác như Việt Nam, đảng CS đă thành công nhờ dành được ngọn cờ giải phóng dân tộc. Trong khi đó, cho tới nay, hơn 150 năm sau ngày Tuyên Ngôn Cộng Sản ra đời, chưa hề có một nước tư bản nào thành cộng sản dù đảng cộng sản được hoạt động tự do và công khai. Riêng ở nước Anh, một trong những nước có đảng cộng sản hoạt động sớm nhất trên thế giới, mùa hè năm 1976, Tổng Bí Thư đảng CS Anh từ chức, ra khỏi đảng, và tuyên bố đảng cộng sản không c̣n vai tṛ ǵ nữa trong xă hội Anh! Rơ ràng là lịch sử đă không diễn tiến theo sử quan duy vật mác-xít.

Về nhận xét thứ hai, chủ nghĩa Mác đă bị xét lại ít nhất hai lần. Lần thứ nhất là Lê-nin. Trong luận cương về chế độ thuộc địa --tài liệu đă đưa HCM, và sau đó là cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của Việt Nam, vào quĩ đạo của cộng sản đệ tam quốc tế-- Lê-nin đă tu chỉnh luận điểm quan trọng của Mác là phải tiến qua giai đoạn tư bản mới lên cộng sản được. Theo Lê-nin th́ vào thời kỳ Mác chủ nghĩa tư bản chưa biến thành chủ nghĩa đế quốc, chưa bành trướng thế lực ra những nước nông nghiệp lạc hậu. Lê-nin cho rằng phải và có thể phát triển cộng sản ở ngay những thuộc địa của các nước tư bản. Từ đó Lê-nin đưa ra điểm tu chỉnh quan trọng: có thể tiến lên cộng sản không cần thông qua giai đoạn tư bản. Điều này phù hợp với thực tế là LX đă tiến lên cộng sản khi vẫn c̣n là một nước nông nghiệp. Nhưng điểm quan trọng là sở dĩ cộng sản thành công tại LX cũng như tại các nước theo mô h́nh Lê-nin v́ có một tổ chức đảng chặt chẽ với kỷ luật sắt và kỹ thuật hoạt động bí mật cao độ, và một chính quyền chuyên chế tuyệt đối. Kết quả là lịch sử đă bị cưỡng chế chứ không phát triển theo qui luật tất yếu tự nhiên như Mác dự kiến. Và tất nhiên, mọi cưỡng chế cuối cùng đều thất bại, dù đă kéo dài được hơn 70 năm.

Mao Trạch Đông là người tu chỉnh chủ nghĩa Mác lần thứ hai.  Lần này Mao tu chỉnh chính qui luật căn bản của học thuyết Mác: luật mâu thuẫn. Mao tŕnh bầy luận điểm của ông trong một tài liệu mỏng nhưng quan trọng mang tựa đề Mâu Thuẫn Luận biên soạn năm 1937, xuất bản năm 1952, và đă được dịch sang nhiều thứ tiếng. Ngay trong câu mở đầu Mao đă viết: “luật mâu thuẫn chính là luật thống nhất những đối lập”[4]. Mao cho rằng mâu thuẫn phải được t́m hiểu và vận dụng trong bối cảnh diễn tiến của thực tại.  Và trong quan hệ với thực tại như thế mâu thuẫn có thể diễn tiến dưới nhiều h́nh thái khác nhau. Có mâu thuẫn lâu dài, có mâu thuẫn tạm thời; có mâu thuẫn chính, có mâu thuẫn phụ.

Áp dụng vào các vấn đề chính trị và cách mạng của Trung Quốc lúc Nhật xâm lăng Trung quốc, Mao cho rằng mâu thuẫn chính lúc đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Trung Hoa và bọn quân phiệt xâm lược Nhật Bản, c̣n mâu thuẫn Quốc-Cộng là mâu thuẫn phụ. Do đó Mao đưa ra chủ trương “Quốc-Cộng liên minh kháng Nhật”. Vào thập niên 60, khi Trung Cộng chống lại ư đồ khống chế của LX, Mao cho rằng mâu thuẫn giữa LX và TQ là mâu thuẫn chính và mâu thuẫn giữa TQ và Mỹ là mâu thuẫn phụ, nên đưa ra khẩu hiệu: “Bắc cự Liên Xô, Đông ḥa Mỹ quốc, cận thân Nhật Bản”. Trên b́nh diện toàn cầu th́, trong khuôn khổ của học thuyết mâu thuẫn mới đó, Mao đưa ra thuyết “ba thế giới”: thế giới thứ nhất gồm hai siêu cường Nga-Mỹ, thế giới thứ hai gồm các nước công nghiệp phát triển, và thế giới thứ ba gồm tất cả các nước kém phát triển. Trung quốc đứng về khối các nước thuộc thế giới thứ ba, tất nhiên với ư đồ lănh đạo các nước này, t́m sự hỗ trợ của các nước phát triển để đánh đổ hai siêu cường Nga-Mỹ. Với quan điểm tu chính rất thực tế này, luật mâu thuẫn của Mác đă mất đi tính chất đấu tranh giai cấp cứng ngắc và mang nặng tính chất dân tộc sinh tồn Đại Hán vốn có của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Đường lối thực dụng Đại Hán hiện đại này được vận dụng nhất quán trong chính sách “hiện đại hóa” do Đặng Tiểu B́nh đưa ra và trong kế hoạch xây dựng “chủ nghĩa xă hội mang tính chất Trung quốc” của ban lănh đạo cộng sản Trung Hoa hiện nay và trong chủ trương “ba đại diện” do Giang Trạch Dân đưa ra gần đây.

Đấy là hai lần tu chỉnh chủ nghĩa Mác ngay tại hai nước cộng sản lớn nhất. C̣n tại những nước tư bản, v́ là những nước tự do, đảng cộng sản được hoạt động công khai nên chủ nghĩa Mác lại càng biến thể nhanh chóng và mạnh mẽ hơn nữa, từ lư luận căn bản tới phương pháp hoạt động. Trong khi những đảng cộng sản chính thống tại các nước nhỏ do Liên Xô hay Trung Cộng chi phối chủ trương cách mạng bạo động và lật đổ th́ tại các nước Âu Mỹ các đảng cộng sản hoạt động bất bạo động, công khai và hợp pháp bằng phương thức tranh cử và đấu tranh nghị trường.  Sau khi Liên Xô sụp đổ và khối Cộng sản quốc tế tan vỡ các đảng cộng sản này, cũng như hầu hết các đảng cộng sản khác trên thế giới, đều lần lượt suy yếu hoặc phải đổi tên thành đảng dân chủ xă hội.

Tại sao phong trào cộng sản quốc tế đă một thời phát triển mạnh mẽ trên một nửa quả địa cầu lại tan ră nhanh chóng như thế? Phải chăng tại v́ những sai lầm trong hàng ngũ lănh đạo của đảng cộng sản Liên Xô? Và phải chăng t́nh trạng hiện nay chỉ là bước ”thoái trào” tạm thời của phong trào cộng sản quốc tế như những nhà lư luận cộng sản Việt Nam hiện đang cố giải thích để làm yên ḷng những đảng viên đă lung lay niềm tin? Có thể là như thế, thậm chí một số đảng cộng sản được phục hồi tại Nga và một số nước khác có thể trở lại cầm quyền. Nhưng ngay tại mỗi nước mà đảng cộng sản có thể trở lại nắm quyền th́ nền văn hóa tư tưởng và chế độ chính trị-xă hội tại những nơi đó đă và sẽ vẫn là một nền văn hóa tự do và một chế độ dân chủ, trong đó mọi tư tưởng và đảng phái chính trị, kể cả đảng cộng sản, đều được quyền hoạt động tự do và b́nh đẳng, và trong đó người dân, chứ không phải bất cứ đảng nào, có quyền quyết định chọn lựa những người lănh đạo đất nước. Đảng cộng sản vẫn có thể, và luôn luôn vẫn có quyền, tồn tại trong chế độ dân chủ như bất cứ đảng chính trị nào khác, nếu vẫn có người theo. Nhưng chế độ cộng sản th́ không bao giờ có thể phục hồi lại được, chế độ cộng sản với ba nội dung cụ thể: độc quyền về văn hóa tư tưởng, độc đảng về chính trị, và kinh tế chỉ huy ưu tiên cho quốc doanh và tập thể. C̣n những lư tưởng mà Mác muốn thực hiện, như b́nh đẳng, tự do, hạnh phúc, không c̣n nguời bóc lột người, các dân tộc sống chan ḥa với nhau, v.v...th́, trước hết, không phải là lư tưởng đặc thù riêng của Mác, mà của bất cứ ai có lương tri trên trái đất này. Hơn thế nữa, những lư tưởng đó đă và đang được thực hiện không phải bởi những phương thức do Mác đề ra, mà bởi những phương thức mà Mác muốn loại bỏ, sau khi đă được tu chỉnh. Và không phải bởi những đệ tử của Mác mà bởi chính những thành phần xă hội mà Mác cho rằng phải tiêu diệt. 

Đúng như thế. Xă hội tư bản có rất nhiều điều bất cập, cần phải được phê phán và sửa đổi, không những trước đây, bây giờ, mà c̣n măi măi không ngừng, như là qui luật chung đối với bất cứ h́nh thái xă hội nào khác. Nhưng xă hội tư bản có một đặc tính quan trọng mà xă hội cộng sản không có: đó là tự do. Sự tự do đó cho phép con người sửa đổi được cả bản thân con người lẫn những cơ chế xă hội mà con người đặt ra, kể cả cơ chế tư bản. Và điều đáng nói hơn thế nữa là sự tự do đó đă cho phép mỗi cá nhân điều chỉnh ngay chính cả sự tự do của ḿnh! Để nhờ đó đă có thể chuyến đổi từ thời kỳ tư bản cá nhân --với sự tự do cạnh tranh theo kiểu rừng rú, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, lợi nhuận cá nhân trên lợi ích công cộng-- sang được thời kỳ tư bản xă hội ngày nay (mà về mặt kinh tế có người gọi là nền kinh tế thị trường xă hội, social market economy) với các biện pháp về luật lệ và thuế má, ngăn ngừa độc quyền kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của người dân b́nh thường, cũng là người tiêu thụ, đồng thời vẫn bảo đảm được môi trường cạnh tranh tự do, b́nh đẳng, thúc đẩy tiến bộ.

Chế độ cộng sản không những đă tước đoạt mất của mỗi con người, mỗi người dân, sự tự do và tự chủ, vốn là đặc tính vô cùng quí báu trong bản chất của loài người. Tệ hơn, nó c̣n triệt tiêu cả cơ hội xây dựng và phát triển sự tự do điều chỉnh và kiểm tra tự động trong cơ chế xă hội. Bản thân Mác và những người theo ông tự cho ḿnh đă t́m ra được chân lư và qui luật duy nhất đúng về sự h́nh thành và phát triển của con người và xă hội. Họ đă tự cho ḿnh cái quyền triệt tiêu mọi cơ hội cho sự tiếp tục t́m ṭi và phát triển chân lư và những quy luật khác. Họ đă thiết lập nên một cơ chế xă hội sơ cứng, máy móc và tàn bạo, “nuôi người và trị người như sắt với muối trong pḥng thí nghiệm”, như ong với kiến ngoài thiên nhiên. Kết quả là cơ chế xă hội đó phải bị chính con người trong cơ chế đó đào thải, và trong thực tế chế độ cộng sản đă bị sụp đổ bởi chính những người cộng sản đă tỉnh ngộ, và ngay tại chính trung tâm quốc tế mạnh nhất của nó.

Lư do căn bản của sự sai lầm tai hại này chính v́ Mác cho rằng con người được tự nhiên (nature) và xă hội qui định trước khi có thể qui định lại tự nhiên và xă hội, đồng thời môi trường xă hội là yếu tố quyết định không những bản thân mỗi cá nhân mà ngay cả hành sử của mỗi cá nhân với người khác và với thiên nhiên. Bị ảnh hưởng bởi những khám phá c̣n rất thô sơ của khoa học tự nhiên và khoa học xă hội vào giữa thế kỷ 19, Mác đă không thấy rằng con người từ tự nhiên mà ra, cũng thuộc loài sinh vật, nhưng lại được thiên nhiên phú bẩm cho khả năng đặc thù. Đó là khả năng tự tách ra khỏi tự nhiên, khám phá và điều chỉnh lại tự nhiên, trong tiến tŕnh xây dựng và không ngừng cải thiện cuộc sống chung, để chuyển từ bầy đoàn theo tự nhiên sang xă hội loài người khác với bầy đoàn ong kiến. Hay nói một cách khác, Mác chỉ thấy tính thống nhất, mà không thấy tính đối lập, giữa người với tự nhiên.

Sự khác biệt giữa con người với thiên nhiên và với các loài sinh vật khác là một sự khác biệt rất căn bản và quyết định. Sự khác biệt đó nằm ngay trong hệ thống gien tự nhiên của loài người với 23 cặp nhiễm sắc thể so với 24 cặp của loài người vượn (chimpanzee), và đặc tính đó ngày càng được phát triển thêm trong quá tŕnh phát triển của xă hội[5]. Nó giải thích không những tại sao con người không ngừng tiến hoá mà tiến hóa ngày một nhanh hơn và nhiều hơn. Nó cũng cho thấy không những xă hội là sản phẩm không ngừng được cải tiến bởi con người và cho con người, mà chính tự nhiên có con người can thiệp vào cũng không ngừng được cải tiến bởi con người và cho con người, khác hẳn với khu vực tự nhiên chưa có sự khám phá và can thiệp của con người --kể cả tự nhiên ngoài vũ trụ lẫn tự nhiên trong mỗi con người và trong xă hội (các hiện tượng tự phát).

Khoa học tự nhiên, khoa hoc xă hội và khoa học nhân văn, qua nhiều ngành nghiên cứu ngày một đa dạng và vi tế hơn, đă và đang đạt được những khám phá sâu rộng về con người, tự nhiên và xă hội. Những khám phá này cung cấp cho nhân loại những kiến thức, khả năng và khí cụ thực tiễn để cải thiện ngày một hữu hiệu hơn mọi mặt đời sống con người, từ cá nhân, tới xă hội và toàn thể nhân loại. Tất nhiên khoa học thời Mác chưa thể cung cấp cho Mác những hiểu biết chính xác và vi tế về ba phạm trù tư tưởng là tự nhiên, con người và xă hội. Do đó, Mác đă có những nhận định sai lầm căn bản về tính chất đặc thù cũng như mối quan hệ hỗ tương của ba phạm trù tư duy nền tảng này. Những nhận thức sai lầm đó đă dẫn tư tưởng Mác xa rời thực tại đời sống con người. Và khi, bằng độc đoán và bạo lực, đem áp đặt những sai lầm này vào việc xây dựng đời sống con người, các đệ tử của Mác đă gây nên bao đau khổ cho hàng triệu cá nhân, và hàng chục dân tộc. Sai lầm văn hóa quả đă gây tác hại muôn đời.

Hồ Chí Minh và các đệ tử tài giỏi của ông khi đem chủ nghĩa Mác-Lê truyền bá vào Việt Nam đă tạo được khí thế mới cho cuộc chiến đấu dành độc lập dân tộc lúc đó đang bế tắc. Họ đă thành công trong việc gắn liền nỗi nhục mất nước vào cảnh cùng khổ của người dân, đặc biệt là nông dân. Nhờ đó đă kích động và lôi cuốn được đa số nhân dân, những người không có ǵ để mất, ngoài chính sinh mạng vốn đă khốn cùng của họ. Nhưng, cũng giống như sự thành công của Lê-nin ở Nga Sa-Hoàng đă chứng thực cho sự sai lầm của sử quan Mác, sự thành công của Hồ Chí Minh và đảng CSVN đă chứng thực cho sự nguy hại của mô h́nh chính trị và kiến thiết của Lê-nin và đệ tử của ông, đặc biệt là Staline. Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là một nước lầm than nghèo khổ, mất chủ quyền và không có tự do. Việt Nam vào cuối thế kỷ 20 vẫn không có tự do và vẫn lầm than nghèo khổ vào loại nhất nh́ thế giới. Mà nền độc lập đă dành được sau ba thập niên chiến tranh, chết chóc và đổ nát, chẳng c̣n mấy ư nghĩa khi người dân vẫn nghèo khổ và vẫn chưa có quyền tự do quyết định vận mệnh chung của đất nước và vận mệnh riêng của ḿnh.  Đảng CSVN đă thành công trong việc dành được độc quyền cai trị đất nước nhưng nhân dân Việt Nam đă thất bại trong việc tranh đ̣i lại độc lập, tự do và hạnh phúc chân chính và bền vững cho ḿnh và cho dân tộc.

Ngày nay, những đổi thay to lớn của t́nh h́nh thế giới đang đặt ra cho mọi người Việt quan tâm tới đất nước, cả cộng sản lẫn không cộng sản, những thách đố to lớn. Kinh tế thị trường, văn hóa tự do và thể chế dân chủ trong một xă hội dân sự ổn định –đó là xu thế phát triển chung của thời đại. Việt Nam cần nhanh chóng hội nhập vào xu thế đó. Một nước Việt mới với những tính chất như thế phải nhanh chóng ra đời để mở đường tiến hóa chung cho toàn dân Việt trong thời đại mới. Ban lănh đạo cộng sản, hơn ai hết, có trách nhiệm nhanh chóng thay đổi để mở ra con đường tiến hóa đó cho dân tộc. Nếu không, những biến đổi kinh tế, văn hóa, xă hội của quần chúng tự bản thân nó đ̣i hỏi thay đổi cơ chế chính trị, và sẽ tự “bung phá” để khai thông con đường tiến hóa. Mà để mở đường tiến hóa không thể không thực hiện tiến tŕnh dân chủ, hay nói như Trần Độ, “Muốn có tự do hạnh phúc phải có dân chủ”. Và để thực hiện tiến tŕnh dân chủ, không thể không chính thức công nhận những tiếng nói đối lập và cho phép ra đời những tổ chức chính trị độc lập. Tôi tin rằng trong ban lănh đạo đảng cộng sản hiện nay nhiều người đă thấy rằng con đường cộng sản là con đường hỏng rồi. Nhưng ham muốn quyền lực chính trị vẫn c̣n ám ảnh họ nên họ chưa dứt khoát tiến hành những thay đổi căn bản về văn hóa và chính trị đi kèm với những thay đổi kinh tế, để chấp nhận tiến tŕnh dân chủ hóa toàn diện đất nước. Theo tôi, họ cần hiểu rằng vào đầu thế kỷ XXI này con đường nắm giữ quyền lực chính trị chính thống nhất là con đường dân chủ, không phải con đường bạo lực hay độc quyền. Chỉ qua sự chấp thuận của người dân quyền lực mới có giá trị. Do đó, bản thân đảng cộng sản Việt Nam cũng cần chuyển đổi để ít nhất cũng thành một đảng cộng sản “kiểu mới” như những đảng cộng sản c̣n tồn tại được trong những nước dân chủ. Và điều này cần được nhanh chóng thực hiện.  Dân tộc ta đă để mất quá nhiều thời gian và cơ hội rồi.

Mong rằng những ǵ đă xẩy ra ở Nam Hàn, Đài Loan trước đây, Indonesia gần đây, và nhất là Myanmar hiện nay, là những kinh nghiệm bổ ích cho ban lănh đạo đảng cộng sản. Trong t́nh cảm thiêng liêng đối với người quá cố, cũng mong rằng cái chết trong niềm u uất v́ dân chủ của một cựu đảng viên cộng sản như ông Trần Độ sẽ giúp đẩy nhanh hơn nữa tiến tŕnh dân chủ một cách êm thắm để đất nước không phải trải qua một thời kỳ rối loạn. Con đường đẹp nhất cho đất nước là con đường chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ một cách ḥa b́nh. Biến chuyển của thế giới và khu vực hiện nay đang rất thuận lợi để đất nước chúng ta tiến vào con đường đó. Và bước khởi đầu trên con đường đó là đối thoại dân tộc thật sự chân thành và cởi mở giữa những người cộng sản đang cầm quyền với những người dân chủ đối lập trong tinh thần anh em, tôn trọng khác biệt, để cùng nhau t́m giải pháp tối ưu cho đất nước. Hơn ai hết, ban lănh đạo đảng cộng sản hiện nay đang ở vào vị thế thuận lợi nhất, đồng thời có trách nhiệm chính để chủ động mở ra con đường đó. Đó cũng là con đường tốt nhất cho tương lai của chính đảng cộng sản “kiểu mới” trong chế độ dân chủ pháp trị bắt buộc phải đến tại Việt Nam.  Họ không c̣n lựa chọn nào khác nếu họ không muốn đảng cộng sản của họ bị lịch sử và toàn dân đào thải ra khỏi tiến tŕnh phát triển chung của dân tộc trong một nước Việt Nam mới đang ra đời –một nước Việt tự do và phồn vinh cho mọi người Việt.

 

Đoàn Viết Hoạt

(8/2002 - nhân dịp tưởng niệm ông Trần Độ

- Đă đăng ở Thế Kỷ 21, số tháng 9/2002)



[1] Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, những cá nhân như các ông Nguyễn Minh Cần, Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Chí Thiện, và hàng ngàn người dân vô danh khác.

 

[2] Đoàn Viết Hoạt Và Nhóm Diễn Đàn Tự Do. The Case of Freedom Forum.  California:  Trăm Hoa, 1993, tr. 38.

[3] Sđd., tr. 39

 

[4] Stuart Schram (ed.). The Political Thought of Mao-Tse-tung. NY:  Praeger Publishers, 1971, p. 194.

[5] Đây là những điểm căn bản trong quá tŕnh phê phán tư tưởng Mác, mà v́ giới hạn của bài viết chưa thể đề cập hết được. Riêng về nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong hệ thống gien của người (23 cặp nhiễm sắc thể) và của người vựơn (24 cặp), đây vẫn đang là đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng. Nhiều giả thuyết khoa học đă được đưa ra để t́m cái “missing link” giữa 23 và 24 cặp nhiễm sắc thể đó.