BẢN PHÚC TR̀NH TÓM LƯỢC
Về T́nh Trạng Nhân Quyền  Tại Việt Nam

Bản Phúc Tŕnh này được sọan thảo trong một hoàn cảnh giam giữ khắc nghiệt, do đó mới chỉ tŕnh bầy được những ư kiến tóm lược gợi ư cho một cuộc điều tra và một chuơng tŕnh hành động cụ thể hơn của các tổ chức nhân quyền quốc tế để thúc đẩy tiến tŕnh thực thi dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam. Những ư kiến tóm lược này đều dựa trên những dữ kiện có thực mà tác giả đă trực tiếp t́m hiểu, và do đó, tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của những điều tŕnh bầy dưới đây truớc dư luận trong nước và quốc tế.

A.  Những vi phạm nhân quyền và dân quyền tại Việt Nam

   I.  Vi phạm trong các văn bản pháp lư:

      1. Trong Hiến Pháp 1992:

          a. Điều 4 xác định quyền lănh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Điều này vi phạm điều 1 của Công Ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị, từc là quyền tự do chọn lựa thể chế chính trị của nhân dân; quyền này chỉ được thực thi khi có những cuộc bầu cử thực sự tự do cà công bằng, trong đó những quan điểm và tổ chức chính trị không cộng sản được tự do ứng cử. Một cuộc bầu cử như thế chưa hề có ở Việt Nam để nhân dân được tự do chọn giữa đuờng lối cộng sản và đường lối không cộng sản.

          b. Điều 70 và 71 thường xuyên bị vi phạm. Nhân phẩm và danh dự của công dân chưa được bảo đảm bằng luât pháp. Ngược lại chính các cơ quan luật pháp đă vi phạm các điều này (như tŕnh bầy dưới đây).        

          c. Các điều khoản về tự do như tự do cư trú, đi lại, hội họp, ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng, đều chỉ có trên giấy tờ, trong thực tế thường xuyên bị vi phạm hay bị hạn chế tối đa. Khi chưa có tự do hoạt động chính trị th́ tất cả các quyền tự do khác không có ư nghĩa và không thể thực thi được. Khi chủ nghĩa Mác vẫn là tư tưởng độc tôn và độc quyền th́ không thể có tự do ngôn luận và tư tưởng được.

          d. Tính độc lập của Hành Pháp, Tư Pháp và Lập Pháp bị vi phạm: một người có thể vừa làm hành pháp vừa làm lập pháp (Giám Đốc công an thành phố HCM cũng là một dân biểu), t́nh trạng mà dân chúng gọi là “vừa đá bóng vừa thổi c̣i”.

      2. Trong các văn bản pháp lư

        a. Luật H́nh Sự:

việc cố t́nh chộn lẫn các hoạt động chính trị đối kháng với chính quyền vào tội danh h́nh sự hoàn toàn vi phạm các công ước quốc tế về quyền con người và quyền dân sự.

các tội danh trong bộ luật H́nh Sự không xác định rơ các yếu tố tội phạm cụ thể, do đó không thể bảo đảm được tính công minh của luật pháp và không bảo vệ được người dân chống lại việc bị chính quyền buộc tội không chính xác;

khung án vừa quá co dăn vừa quá nặng tạo kẽ hở cho việc lạm dụng luật pháp đồng thời dựng lên một chế độ luật pháp hà khắc đối với nhân dân;

nguyên tắc căn bản của luật pháp hiện nay ở Việt Nam là: luật pháp là để bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền chuyên chính vô sản. Nguyên tắc này hoàn toàn vi phạm các công ước quốc tế về nhân quyền và dân quyền, đồng thời vi phạm tập quán luật pháp văn minh của thế giới.

        b. Luật tố tụng h́nh sự:

Mọi thủ tục tố tụng qui định trong luật này đều có thể bị vô hiệu hóa (nghĩa là vi phạm) một cách dễ dàng bằng hai “siêu thủ tục”: một là sự can thiệp của đảng cộng sản, hai là cụm từ “trừ trường hợp nghiêm trọng”. Thí dụ: bị can có thể yêu cầu có luật sư hiện diện trong các buổi hỏi cung “trừ trường hợp nghiêm trọng”. Nhưng thế nào là nghiêm trọng? Ai có quyền quyết định và quyết định đó có thể bị phản kháng hay không? ất cả những điều này đều không được qui định rơ rệt.

Các thủ tục tố tụng thường xuyên bị vi phạm trong hầu hết các vụ án quan trọng, kể cả chính trị lẫn kinh tế. Hai vi phạm thường xẩy ra là: giam cứu (tạm giam) quá thời hạn cho phép, và khi bị bắt và bị truy tố là bị coi như có tội, do đó cảù cơ quan điều tra lẫn viện kiểm sát đều có quyền sử dụng các ngôn từ thô bạo dành cho những người bị buộc tội như “tên, bọn, bọn chúng…”, vi phạm nhân phẩm và danh dự công dân và vi phạm các điều 70 và 71 của Hiến Pháp 1992.

   II. Vi phạm trong hệ thống luật pháp:

       1. Vi phạm khi giam giữ điều tra:

           a. Tạïm giam quá thời hạn luật pháp cho phép. Trong khi tạm giam, bị can bị tước đoạt gần như hoàn toàn các quyền công dân, điều kiện ăn ở, sinh hoạt tồi tệ.       

           b. Điều tra xét hỏi thiếu vô tư, hoặc bằng các biện pháp ép cung tinh vi cũng như thô bạo (đánh đập, cùm kẹp, đặc biệt với h́nh sự).

      2. Vi phạm khi xét xử:           

          a. Tệ tham nhũng hối lộ nghiêm trọng, đặc biệt trong các vụ án kinh tế, làm cho việc xét xử khó thể công minh (câu nói thường xuyên được nghe, kể cả trong công an, là “có cây (vàng) mới chống (án) được”)

          b. Trong các vụ án chính trị, quan điểm chính trị thường được sử dụng để buộc tội và xét xử hơn là những bằng chứng cụ thể và các cơ sở pháp lư. Chánh án thường đứng về phía công tố viên (Viện Kiểm Sát) hơn là giữ cương vị công minh để xem xét cả các luận cứ buộc tội lẫn các luận cứ bênh vực.

          c. Luật sư hầu như chỉ để “làm kiểng”. Các luật sư hầu như không dám đứng về phía phản bác lại Viện Kiểm sát để bác bỏ tội danh, nhất là trong các vụ án chính trị. Họ chỉ dám (và chỉ được phép) xin giảm nhẹ tội mà thôi.

      3. Vi phạm trong các trại giam:

          a. T́nh trạng ăn ở và sinh hoạt tồi tệ, mất vê sinh. Cách cư sử phi nhân của các cán bộ trong trại giam đối với các tội phạm (như đánh đập, chủi rủa, kỷ luật hà khắc). (Các qui chế giam giữ mới ban hành trong năm 1993 có một số qui định tương đối khá hơn nhưng việc thực thi c̣n phải được thực chứng bằng thực tế).

          b. Việc giam giữ tù chính trị chung với tù h́nh sự trong đa số các trại tù tạo ra một h́nh thức áp bức tinh vi đối với những người chống đối chế độ.

          c. Bắt tất cả các phạm nhân làm lao động (thường là rấtù cực khổ) không phân biệt tội trạng và thời gian giam giữ, và bất kể ṭa án có tuyên phạt lao động hay không.

   III. Vi phạm trong sinh hoạt xă hội:

        1. Quyền tự do đi lại và cư trú bị hạn chế bởi các thủ tục hành chánh và an ninh gắt gao liên quan tới hộ khẩu và khai báo nơi đi và nơi đến.

        2. Quyền tự do hội họp bị vô hiệu hóa v́ bất cứ tổ chức nào không chấp nhận sự lănh đạo của đảng cộng sản và chủ thuyết cộng sản sẽ không được phép thành lập và đương nhiên không được phép hoạt động.

        3. Quyền tự do tư tưởng và ngôn luận trở thành vô nghĩa khi chủ nghĩa cộng sản dành quyền độc tôn và mọi biểu hiện trái hay chống lại chủ nghĩa này đều bị coi là “phản động” và bị bắt giữ.

        4. Quyền tự do tín ngưỡng cũng trở nên vô nghĩa khi chính quyền dành quyền can thiệp vào hầu hết mọi sinh hoạt tôn giáo, ngay cả những công việc thuộc thuần túy tôn giáo như tấn phong linh mục, nếu chính quyền không chấp nhận cũng không tổ chức được.

B. Những điều kiện cần có để nhân quyền và dân quyền được thực thi tại Việt Nam

   I. Một cơ chế chính trị bảo đảm được dân quyền và nhân quyền

   Cơ chế này phải có các tính chất sau đây:

      1. Tách đảng quyền ra khỏi chính quyền. Chính quyền phải thực sự do dân, của dân và v́ dân, không phải do đảng, của đảng và v́ đảng, bất kể là đảng nào, cộng sản hay không cộng sản.

      2. Ba quyền tư pháp, lập pháp và hành pháp phải được tách biệt, độc lập và kiềm chế lẫn nhau.

      3. Quyền của công dân phải được bảo đảm bằng luật pháp để chống lại mọi h́nh thức áp bức của công quyền và để mở đường cho mọi công dân tham gia vào việc điều hành và xây dựng quốc gia.

      4. Công luận (thông qua báo chí và các hệ thống truyền thông đại chúng và các cơ quan nghiên cứu ư dân) phải được coi là quyền thứ tư, đóng vai tṛ giám sát, phản hồi (feedback) và điều chỉnh chính quyền trong tiến tŕnh xây dựng một xă hội công dân và một chế độ dân chủ toàn dân (dân chủ tham gia, participatory democracy).

   II. Một hệ thống sinh hoạt chính trị-xă hội thật sự tự do

      1. Tự do lập hội và lập đảng, không phân biệt xu hướng và quan điểm chính trị, xă hội.

      2. Tự do bầu cử và ứng cử, trong đó người dân được tự do lựa chọn giữa những quan điểm và xu hướng chính trị khác nhau.

      3. Tự do ngôn luận, báo chí, xuất bản và tự do văn hóa tư tưởng.

   III. Một hệ thống luật pháp công minh, tôn trọng dân quyền và nhân quyền

      1. Sửa đổi Luật H́nh Sự và Luật Tố Tụng h́nh sự.

      2. Sửa đổi hệ thống tổ chức Viện Kiểm Sát, ṭa án để bảo đảm việc xét xử công minh và tính độc lập của ṭa án.

      3. Tăng cường vai tṛ của luật sư đoàn và các luật sư để bảo đảm tính độc lập và vai tṛ bảo vệ công lư và quyền công dân của luật sư.

      4. Bổ sung các đạo luật c̣n thiếu sót (như luật Dân sự, luật Thương mại, luật hành chánh…). Rà soát lại tất cả các đạo luật đă có, hủy bỏ hoặc sửa đổi những đạo luật nào vi phạm dân quyền và nhân quyền.

   IV. Một hệ thống bảo đảm việc thực thi dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam: Hệ thống này bao gồm:

      1. Các tổ chức bảo vệ dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam trong cả ba lănh vực kinh tế, văn hóa và chính tri.

      2. Giao lưu tự do giữa các tổ chức bảo vệ dân quyền và nhân quyền với các tổ chức nhân quyền quốc tế trong việc trao đổi thông tin, tham vấn và thúc đẩy thực thi dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam.

C. Tiến tŕnh hành động để thúc đẩy việc thực thi dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam: Tiến tŕnh này gồm ba giai đoạn:

   I. Giai đoạn 1: Tạo môi trường pháp lư cho việc thực thi dân quyền và nhân quyền

Cải tổ hệ thống tổ chức luật pháp;

      2. Sửa đổi, bổ xung và ban hành các đạo luật bảo đảm dân quyền và nhân quyền;

      3. Cải tổ hệ thống hành chánh để ngăn chặn việc lạm quyền của các cơ quan công quyền đối với công dân.

   II. Giai đoạn 2: Tạo môi trường chính trị-xă hội để bảo đảm việc thực thi dân quyền và nhân quyền

1. Tự do ngôn luận, báo chí và tự do hoạt động chính trị;

      2. Trả tự do hoàn toàn cho tất cả các tù chính trị; thủ tiêu tội danh chính trị trong luật pháp. Không ai có thể bị bắt giữ v́ bất đồng chính kiến với chính quyền.

3. Tự do bầu cử và ứng cử.

   III. Giai đoạn 3: Thiết lập cơ chế chính trị bảo đảm vững chắc cho việc thực thi dân quyền và nhân quyền.

      1. Quốc dân quyết định thể chế chính trị và người lănh đạo quốc gia thông qua các cuộc bầu cử thực sự tự do và công bằng.

      2. Quyền con người và quyền công dân được bảo đảm bằng một hiến pháp thực sự dân chủ do một quốc hội thực sự dân cử thông qua để thiết lập một cơ chế chính trị thực sự tôn trọng dân quyền và nhân quyền như đă mô tả ở đoạn BI trên đây.

D. Vai tṛ của các tổ chức nhân quyền quốc tế

Trong điều kiện chính trị-xă hội hiện nay, việc thực thi dân quyền và nhân quyền ở Việt Nam chỉ có thể bảo đảm khi có sự can thiệp của các tổ chức nhân quyền quốc tế. Các tổ chức này có thể có các hoạt động cụ thể sau đây để thúc đẩy tiến tŕnh thực thi dân quyền và nhân quyền tại Việt nam

     1. Thâu thập đầy đủ thông tin về t́nh trạng vi phạm dân quyền và nhân quyền tại Việt nam trong tất cả các khía cạnh như đă gợi ư trong phần A của bản phúc tŕnh này.

     2.  Phân tích thông tin và phân loại các vi phạm.

     3. Lên danh sách các vấn đề vi phạm cần được giải quyết theo thứ tự ưu tiên, theo tiêu chuẩn tác động mạnh hay yếu tới việc thực thi dân quyền và nhân quyền ở Việt Nam.

     4. Áp lực để chính quyền Việt Nam hiện nay giải quyết các vi phạm theo thứ tự ưu tiên đó.

     5. Phối hợp hoạt động giữa các tổ chức nhân quyền quốc tế với các cá nhân hoặc tổ chức đấu tranh cho nhân quyền của người Việt ở trong nước và hải ngoại, và với các chính phủ cường quốc cũng như với các tổ chức phi chính phủ khác.

Tác giả soạn bản phúc tŕnh này hoàn toàn với một tâm nguyện là mong đóng góp một phần bé nhỏ vào tiến tŕnh xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh và tiến bộ, sớm hội nhập được vào cộng đồng quốc tế và sớm được chung hưởng nền văn minh của toàn thể nhân loại. Tác giả nhận thức rằng: không có tự do dân chủ thưc sự, dân quyền và nhân quyền không được thực thi, th́ dân tộc Việt Nam chưa thể phát triển được. Đồng thời tác giả cũng tin tưởng vững chắc rằng dân tộc Việt đang chuyển ḿnh để bước vào thời kỳ phục hưng lớn lao chưa từng có trong lịch sử. Do đó, cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam không những là một cuộc đấu tranh bắt buộc phải có, mà chắc chắn sẽ thành công v́ vừa đáp ứng được khát vọng xây dựng một Việt Nam hạnh phúc và phồn vinh của dân tộc Việt, vừa phù hợp với xu thế thời đại của nhân loại.

 

Trại giam Xuân Phước

Ngày 1 tháng 1 năm 1994

Đoàn Viết Hoạt

________________________________________________________

Ghi Chú:  Bản Phúc Tŕnh này được soạn thảo ngay sau khi tác giả được người bạn tù chính trị Phạm văn Thành cho biết một phái đoàn nhân quyền quốc tế sẽ đến thăm một số trại giam, trong đó có Xuân Phước. Bản Phúc Tŕnh sau đó đă được Phạm Văn Thành, cùng các bạn tù khác, giúp chuyển ra ngoài cho bạn bè gửi ra hải ngoại, và đă được phổ biến rộng răi.

Bản trên đây ghi lại bản Phúc Tŕnh đă được được phổ biến trên tập san Thế Kỷ 21, tháng Ba 1994, trang 12-14.