Việt Nam Sau Đông Âu

Trước khi bàn tới t́nh h́nh trong nước, chúng ta hăy điểm qua t́nh h́nh thế giới, đặc biệt là Đông Âu. 

Cho tới nay, tháng 4-1990, h́nh thể chính trị Đông Âu đă rơ nét. Chỉ trừ Nam Tư và An-ba-ni c̣n đang diễn tiến, tại hầu hết các nước Đông Âu khác một thể chế chính trị mới đă ra đời. Tại hầu hết các nước đă tổ chức bầu cử tự do đa đảng. Đảng Cộng Sản đều không dành được đa số phiếu và do đó đă mất quyền lănh đạo. Các chính quyền không cộng sản đang tiếp tục xuất hiện tại Đông Âu. Điều đáng chú ư là tại hầu hết các nước đă có bầu cử tự do cuộc tranh đua chính trị không xẩy ra giữa đảng cộng sản và các đảng không cộng sản, mà là giữa các đảng không cộng sản với nhau. Trong các cuộc tranh đua dân chủ này đảng cộng sản hầu như không c̣n là đối thủ đáng quan ngại của các đảng phái không cộng sản. Như tại Đông Đức, các đảng không cộng sản đua tranh ráo riết và đều dành được những vị trí hàng đầu bỏ xa đảng Cộng sản. Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo chiếm hơn 40% số phiếu, trong khi đảng Cộng sản chỉ chiếm được hơn 16%. Tại Hungari, hai đảng không cộng sản tranh nhau chiếm vị trí đứng đầu: Liên Minh Dân Chủ Bảo Thủ và Liên Minh Dân Chủ Tự Do (cấp tiến hơn). Nếu t́nh h́nh tiếp tục diễn tiến như hiện nay th́ chúng ta có thể dự kiến khá chính xác rằng vào cuối 1990 hầu hết các nước Đông Âu sẽ có những chính quyền không cộng sản.

Nhũng diễn biến đang xẩy ra ở Đông Âu gia tốc mau lẹ hơn dự kiến của nhiều chuyên viên thời sự thế giới. Người ta có thể trông thấy một nước Đức hợp nhất trước khi Tây Âu hợp nhất vào năm 1992. Và nếu như thế th́ một Âu Châu hợp nhất liệu có thể xẩy ra đồng thời ngay sau khi Tây Âu hợp nhất hay không? Có lẽ điều này tùy thuộc vào thái độ của các nước Tây Âu như Anh, Pháp, và đặc biệt của hai siêu cường Nga-Mỹ, nhất là Nga có thể chịu đựng được một Âu Châu hợp nhất quá sớm như thế không khi mà Nga Sô chưa t́m được lối thoát cho những vấn đề nội bộ của ḿnh, nhất là vấn đề thể chế Liên Bang mới. Nhưng dù sao đi nữa th́ việc hợp nhất Âu Châu chỉ c̣n là vấn đề thời gian và phương thức nữa mà thôi.

Với viễn ảnh một Âu Châu hợp nhất như thế chúng ta trông thấy sự ra đời một thế giới mới trong thập niên 1990, nhất là từ giữa thập niên trở đi. Thế giới mới này sẽ bao gồm nhiều Liên hiệp các quốc gia độc lập tự chủ, với nhiều h́nh thức khác nhau, từ lỏng lẻo như ASEAN hiện nay (ASEAN cũng sẽ tiến tới chặt chẽ hơn), tới chặt chẽ hơn như đề án hợp nhất Âu Châu (với nghị viện chung, thị trường hợp nhất, tiền tệ chung, cờ chung nền xanh 12 sao trắng…). Những quốc gia nhỏ đơn độc trong mỗi khu vực sẽ phải dần dần kết tụ lại thành một liên hiệp các quốc gia.  Trong chiếu hướng đó, các tổ chức hợp tác vùng hiện đă ra đời sẽ tiếp tục được hoàn thiện, và các tổ chức liên quốc gia khu vực sẽ tiếp tục xuất hiện. Thể chế Liên bang quá tập trung hiện nay tại Liên Xô sẽ phải được thay thế bằng một thể chế liên hiệp các quốc gia độc lập. Tương lai của Trung quốc cũng không thể đi ngoài chiều hướng khác hơn là một liên hiệp 7 dân tộc vùng Bắc và Đông Bắc Á là Hán, Măn, Mông, Hồi, Tạng, Đài Loan và Chuang. Bản đồ thế giới mới sẽ tiếp tục được định h́nh lại trong thập niên 1990, và tới đầu thế kỷ 21, một thế giới mới toàn cầu hóa và nhân loại hóa sẽ thật sự ra đời.

Tất nhiên cái thế giới mà chúng ta đang dự phóng đó không phải chỉ toàn mầu hồng. Ngược lại, để tiến tới được một thế giới thật sự quốc tế và ḥa hợp nhân loại như thế c̣n nhiều, rất nhiều vấn đề gai góc cần được giải quyết. Bất cứ ai chăm chú theo dơi t́nh h́nh thế giới về mọi mặt, từ kinh tế thương mại, tới văn hóa, chính trị, xă hội, đều thấy nổi bật lên một số vấn đề có tính toàn cầu, như nạn nhân măn, t́nh trạng ô nhiễm môi sinh, sự chênh lệch giầu nghèo, t́nh trạng bạo loạn và khủng bố thế giới, sự khủng hoảng niềm tin tinh thần và đạo đức xă hội….Điều đáng nói ở đây là tính toàn cầu của những vấn đề này. Đó không c̣n là những vấn đề riêng của một quốc gia nào, một thể chế chính trị kinh tế riêng biệt nào. Tất nhiên trong một xă hội khép kín, khe khắt, độc đoán và chậm tiến th́ những vấn đề này có thể ít bộc lộ hơn hoặc ít trầm trọng hơn. Nhưng điều nghịch lư là nếu muốn phát triển th́ phải phá vỡ các tính chất khắt khe, độc đoán, khép kín đó. Và một khi các tính chất đó được phá vỡ th́ đồng thời những vấn đềâ thời đại trên cũng được bung vỡ ra, v́ đây chính là những vấn đề chung của thời đại công nghiệp hóa cao độ, kể từ cuộc cách mạng kỹ nghệ lần thứ nhất tới nay, và sẽ c̣n tiếp tục nếu nhân loại không nhanh chóng có những biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Sự lan tràn của kỹ nghệ kéo theo những vấn đề thời đại này, và ngày nay, toàn nhân loại đang đứng trước những nguy cơ chung, có thể không hủy diệt nhân loại như bom nguyên tử, nhưng chắc chắn đang đe dọa đời sống ổn định, phát triển và hạnh phúc của cả loài người, kể cả làm suy thoái dần văn hóa và nhân chủng.

Nhưng nói chung những vấn đề thời đại trên đây chưa phải là những vấn đề nóng bỏng hiện nay của chúng ta. Đó là những vấn đề của các nước có nền công nghiệp phát triển. Và chính v́ thế mà họ đang phải cùng nhau cố gắng hợp tác để giải quyết, v́ nếu không giải quyết được những vấn đề này th́ sự an ninh thịnh vượng và thành quả văn minh của họ sẽ bị tan vỡ trước. Đồng thời, sự hợp tác của các nước công nghiệp này lai là một cơ may cho những nước kém phát triển như nước ta. Trước hết v́ nhờ sự hợp táùc hoà b́nh này mà những nước như nuớc ta không c̣n phải tiêu phí quá nhiều tài lực và nhân lực vào những công việc phi phát triển như chiến tranh, tạo loạn và chống tạo loạn. Sau nữa, sự hợp tác quốc tế để phát triển sẽ tạo ra những nguồn hỗ trợ tài chánh và khoa học kỹ thuật dồi dào và đa dạng rất cần thiết cho sự phát triển xă hôi của chúng ta.

T́nh h́nh quốc tế hiện nay như thế đang hết sức thuận lợi cho sự phục hưng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi t́nh trạng nghèo nàn lạc hậu. Chính những nước chung quanh chúng ta nhờ sớm vận dụng được cơ may này mà đă đạt được những bước tiến nhẩy vọt vượt xa nước ta rất nhiều. Nhưng để có thể vận dụng được cơ may này cần có những điều kiện ǵ? Nh́n sang những nước mới đạt được những bước phát triển nhanh chóng (những Con Rồng Châu Á) chúng ta sẽ thấy ngay những điều kiện này. 

Trước hết đó là không khí tự do trong mọi hoạt động xă hội.  Sự tự do ấy triệt tiêu mọi tham vọng độc quyền, mở đường cho mọi cố gắng phát triển xă hội có cơ hội thực hiện được, nhờ đó những người có khả năng, có sáng kiến được phát huy hết năng lực của ḿnh. Nhưng tự do chưa đủ, v́ tự do chỉ có ư nghĩa tích cực nếu loại trừ được rối loạn, đồng thời không dẫn tới độc đoán.  Một nền tự do trong sáng như thế chỉ có thể phát triển được trong một xă hội có pháp quyền nghiêm minh và công chính. Nền dân chủ pháp quyền (*) bảo đảm tự do cho mọi công dân, tiêu trừ mọi thứ tự do xây dựng trên đặc quyền đặc lợi, và không chấp nhận mọi h́nh thức dùng tự do để triệt tiêu tự do của người khác.  Một nền pháp chế như thế không thể xây dựng được bằng bạo quyền và áp đặt dười bất cứ h́nh thức nào, tinh vi hay thô bạo.  Nền pháp chế đó phải được xây dựng trên ư nguyện và quyền lực của đại đa số quốc dân. Mà ư nguyện và quyền lực của quốc dân chỉ có thể xây dựng được qua những cuộc trưng cầu dân ư và những cuộc bầu cử thật sự tự do và công b́nh. Như thế ba điều kiện cho phát triển xă hội là tự do, dân chủ và pháp luật.  Có ba điều kiện này th́ các điều kiện khác như khoa học kỹ thuật quốc tế mới phát huy tác dụng tích cực và lâu bền được.

Ở nước ta hiện nay cả ba điều kiện này đều chưa có. Và cho đến khi nào có được những điều kiện đó, cánh cửa phát triển vẫn chưa thể nào mở rộng được. Điều đáng lo là Hội Nghị Trung Ương 8 (khoá VI) vừa qua của đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa cho chúng ta thấy một dấu hiệu chuyển hướng nào theo chiều hướng này của các nhà lănh đạo cộng sản. Ngược lại, những ǵ được công bố sau Hội Nghị đă làm cho người dân, hay đúng hơn là những ai c̣n kỳ vọng ở đảng Cộng Sản Việt Nam phải hoàn toàn thất vọng (bởi v́ chắc rằng đại đa số quốc dân không c̣n mấy kỳ vọng ở đảng CSVN nữa). Không những thất vọng mà c̣n vô cùng âu lo. Âu lo v́ nếu bế tắc hiện nay không giải tỏa nhanh chóng và thật tâm th́ “tức nước vỡ bờ” t́nh thế rất dễ dàng bùng nổ thành bạo loạn và binh biến, một điều mà những ai có ư thưc trách nhiệm thật sự đều không muốn xẩy ra.

Những nhận định của Hội Nghị Trung Ương 8 về t́nh h́nh Đông Âu bộc lộ thái độ “đà điểu” của  Bộ Chính Trị già nua, giáo điều, bảo thủ. Một thái độ như thế vừa không phản ánh được xu thế đổi mới đang xẩy ra như vũ băo trong thế giới cộng sản, vừa hoàn toàn xa lạ với những ưu tư và khát vọng của quần chúng Việt.

Đi sâu phân tích bản Thông Báo của Hội Nghị Trung Ương 8 chúng ta ghi nhận mấy điểm đáng chú ư sau đây.

Điều thứ nhất là Thông Báo không cho ta một thông tin nào liên  quan tới cuộc thảo  luận về  bản  Dự Thảo  Cương Lĩnh  mới.

(*) Từ ngữ đúng nghĩa ở đây phải là “dân chủ pháp trị”.

Chúng ta chỉ được biết qua tin hành lang rằng Hội Nghị đă diễn ra trong một không khí rất sôi động và căng thẳng. Hội nghị có thảo luận về dự thảo Cương lĩnh mới hay không? Nếu không th́ chắc phải có một Hội Nghị Trung Ương nữa để chuẩn bị cho Đại Hội 7. Lư do có thể v́ chưa thể đồng ư được về Cương Lĩnh đă được dự thảo từ ba năm nay. Trong khi đó th́ Thông Báo cho biết ngắn gọn là Đại Hội 7 sẽ được triệu tập vào quí 2 năm 1991.  T́nh thế hết sức cấp bách tại sao Đại Hội lại được đẩy lùi xa như thế? Để phe bảo thủ có thêm thời gian chuẩn bị những xảo thuật chính trị mới? Hay v́ ban lănh đạo cộng sản hiện tại không thể đồng nhất được với nhau về đường lối mới trong t́nh h́nh mới và cần một thời gian chuẩn bị lâu dài hơn nữa? Thực ra th́ cả hai lư do này đều chỉ là một, và phe bảo thủ muốn loại được những thành phần mà phe này gọi là “cực đoan nóng vội”, “cơ hội, mị dân, xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận thành tựu cách mạng” (trong Thông báo). 

Nhưng vấn đề là từ nay đến Đại Hội 7 t́nh h́nh sẽ biến động như thế nào? Ban lănh đạo cộng sản c̣n chủ động được t́nh thế tới mức độ nào? Trước sóng trào của xu thế dân chủ và của ḷng dân liệu Đại Hội 7 có thể là Đại hội cuối cùng của một đảng cộng sản độc quyền tại Việt Nam nữa hay không? Và phải chăng chính v́ lo sợ như thế mà ban lănh đạo cộng sản hiện nay tŕ hoăn Đại Hội để có thể có thêm thời gian thực hiện những “mưu chước phù thủy chính trị” của họ?  Dù sao việc thiếu thông tin về cuộc thảo luận dự thảo Cương Lĩnh mới, và việc tŕ hoăn Đại Hội 7 đă bộc lộ sự lúng túng và mâu thuẫn trong nội bộ Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Điểm đáng lưu ư thứ hai trong Thông Báo liên quan tới trường hợp Trần Xuân Bách. Những người theo dơi Trần Xuân Bách trong mấy chục năm nay đều biết rơ con người Trần Xuân Bách và những thăng trầm của ông ta. Chỉ cần lưu ư rằng sau khi bị hạ tầng công tác Trần Xuân Bách đă nhanh chóng được phục hồi và được đưa vào Bộ Chính Trị trong Đại Hội 6 vừa qua. Và trong những tháng gần đây, cùng với sóng trào đổi mới ở Liên Xô và Đông Âu, Trần Xuân Bách đă tích cực vận động dư luận trong và ngoài đảng cho cuộc cải tổ theo chiều hướng Liên Xô và Đông Âu. Đặc biệt, sau khi Nguyễn Văn Linh đă “thỏa hiệp” với phe bảo thủ trong Hội Nghị Trung Ương 7 th́ Trần Xuân Bách lại dương cao ngọn cờ cải cách dân chủ theo đường lối đa nguyên đa đảng. Một nhà chính trị cơ hội như Trần Xuân Bách liệu có dám liều lĩnh chống lại đường lối bảo thủ hiện nay của ban lănh đạo cộng sản nếu không cảm thấy có một chỗ dựa vững chắc nào đằng sau ông ta? 

Chúng ta cũng cần liên hệ vụ Trần Xuân Bách với vụ việc khác, như vụ “cướp” lại ban Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Cựu Kháng Chiến, vụ tạo ra một số quan điểm có vẻ “thoáng” hơn (báo Lao Động Chủ Nhật, Người Hà Nội…), cho phép một số cá nhân, tổ chức, có những ư kiến và hoạt động “tự do” hơn… Vụ Trần Xuân Bách do đó không thể chỉ được hiểu đơn giản như là sự tiến công của phe bảo thủ vào phe cấp tiến, mà như là một trong những “bùa chú chính trị” đang được tiếp tục tung ra. Những bùa chú này xem ra rất ngoạn mục nhưng rốt cuộc lại sẽ chỉ làm cho ban lănh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay thêm “mắc lầm kế ai” mà thôi. “Bàn tay lông lá” ở đâu trong tất cả những dàn dựng này?  Và phần ch́m của “tảng băng” chính trị Việt Nam hiện nay là ǵ?

Điểm đáng lưu ư thứ ba trong Thông Báo liên quan tới phần ch́m của tảng băng chính trị này. Mở đầu Thông Báo nhận định rằng: “Nhiều nước xă hội chủ nghĩa đang lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng nhất từ trước đến nay. Cuộc khủng hoảng này đang tác động tiêu cực tới phong trào cách mạng thế giới.”  Và bản Thông Báo đưa ra một số các giải pháp không có ǵ mới mẻ, trong đó đáng chú ư là hai quan điểm “trước hết, ổn định về chính trị” và “có tinh thần độc lập tự chủ” (người viết gạch dưới).

“Ổn định về chính trị” hiển nhiên có nghĩa là củng cố sự lănh đạo độc quyền của đảng Cộng Sản. Nhưng c̣n “có tính độc lập tự chủ” là nghĩa ǵ? Tại sao lại nêu ra tinh thần độc lập tự chủ trong lúc này? Phải chăng đó có nghĩa là khước từ áp lực của “bàn tay lông lá” Liên Xô? Chúng ta hăy nhớ lại một số sự kiện xẩy ra trong những tháng gần đây để có thể nắm bắt được ư nghĩa của vài chữ tuy ngắn ngủi nhưng rất quan trọng này. 

Vào cuối năm 1989, trong cuộc phỏng vấn dành riêng cho một kư giả Tây phương (đăng trên báo Sudest Asie số tháng 10-1989), trả lời câu hỏi Việt Nam chọn phương thức nào, Liên Xô hay Trung Quốc, ông Nguyễn Cơ Thạch trả lời rằng, trong kinh tế, phương thức thanh toán và giá cả quyết định. Mặt khác, trong một tài liệu do Câu Lạc Bộ Cựu Kháng Chiến phổ biến, Trần Văn Giầu lên tiếng phản đối việc đảng cho học tập chống lại Gorbachev. Trong khi đó, báo chí Việt Nam bắt đầu mở chiến dịch “tả oán” về t́nh trạng bi thảm của công nhân Việt Nam đang làm thuê tại các nước xă hội chủ nghĩa, và nhấn mạnh tới thái độ cư xử không mấy tốt đẹp của các nước này. Đây là điều mà báo chí Tây phương đă nói tới từ lâu, và t́nh trạng này đă bị tố cáo tại Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO) và lúc đó Việt Nam đă phản đối bằng cách rút ra khỏi tổ chức này. 

Tại sao đến nay Việt Nam lại nói lên sự thực quá cũ rích này?  Phải chăng nó phản ánh t́nh trạng căng thẳng ngấm ngầm trong bang giao Xô-Việt? Báo chí quốc tế cho biết từ tháng 1-1990 Liên Xô đă bắt đầu cắt giảm khoảng 50% và tới đầu năm 1991 sẽ hoàn toàn băi bỏ mọi phương thức giao thương “bao cấp” như hiện nay, và sẽ bán hàng cho Việt Nam theo giá quốc tế. Ngoài ra, ta cũng cần ghi nhận lời tuyên bố mới đây của ông Nguyễn Văn Linh với một kư giả Nhật rằng Việt Nam sẵn sàng cung cấp cho Nhật bản công nhân và nguyên vật liệu – một lời chào hàng cũ với một khách hàng mới để chuẩn bị cho việc mất các khách hàng cũ chăng? Thật là bi thảm và đáng hổ thẹn cho Tổng Bí Thư một đảng luôn sẵn sàng hống hách ra oai với quần chúng đói rách nhưng lại sẵn sàng mang công nhân rẻ mạt của ḿnh đi rao bán cho thiên hạ, ngang với rao bán một tấn than bùn, một tạ tôm ươn !

Phần ch́m của tảng băng chính trị Việt Nam hiện nay c̣n có thể được “nh́n thấy” qua một số biến cố dồn dập xẩy ra trong thời gian có Hội Nghị Trung Ương. Tạm kể một số sự kiện nổi bật: vụ Đường Sơn Quán, vụ thanh trừng tại tỉnh ủy Rạch Giá, vụ tổ chức vượt biên của một số cán bộ công an cao cấp tại Bến Tre, vụ Thanh Hương, và nhất là cao trào phê b́nh đảng của quân đội. Hai sự kiện sau cùng đáng quan tâm nhất. 

Về vụ Thanh hương, như một nhà kinh tế đă phân tích trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật số ra ngày 8-4 vừa qua, lỗi chính là Nhà Nước v́ đă cho phép các tổ chức kinh doanh tư nhân huy động vốn mà không có một qui định và chế tài cụ thể nào. Hơn nữa, theo công bố của cơ quan điều tra th́ tích sản của Thanh Hương là 114 tỉ mà tiêu sản mới chỉ là 25 tỉ, vậy c̣n 89 tỉ đi đâu? Cơ quan công an cho biết tịch thu được cả ngàn cây vàng và hàng chục tỉ đồng tiền mặt. Vậy Thanh Hương đă làm ăn ǵ với số vốn khổng lồ đó? Làm sao có thể “đút túi” riêng với một số vốn lớn như thế? Buôn lậu ǵ chăng? Ai đứng đằng sau? Và tại sao khi xử không thấy chưng ra bằng chứng buôn bán bất hợp pháp ǵ?  Phải chăng chúng ta nên liên tưởng tới vụ buôn lậu bạch phiến vừa rồi ở Cu-ba.

Vụ quân đội phê phán ban lănh đạo đảng lại càng khiến chúng ta phải quan tâm hơn nữa. Đây là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam v́ do chính Ủy Viên Bộ Chính Trị Lê Đức Anh đứng ra tổ chức ngay sau khi ở Liên Xô về và trong khi Hội Nghị Trung Ương 8 đang họp. Phải chăng Lê Đức Anh làm theo chỉ thị của Liên Xô như nhiều người sẽ dễ dàng suy luận như vậy? Hay thực ra đây chỉ là một xảo thuật chính trị của Bộ Chính Trị, một kiểu “trăm hoa đua nở” dành riêng cho quân đội? Kết quả Hội Nghị Trung Ương 8 cho thấy giả thuyết thứ hai có phần nào đúng hơn. Và như thế th́ quân đội lại một lần nữa bị phe chính trị đánh lừa và t́nh thế có thể rất nghiêm trọng trong những tháng tới nếu đảng không loại trừ được những thành phần tướng lănh chống đối. Liệu có thể tránh đổ máu để mở đường thoát cho chính đảng Cộng sản Việt Nam hay không?

Qua các biến cố kể trên, chúng ta thấy ban lănh đạo CSVN hiện nay đang mưu đồ thoát ra khỏi t́nh thế bế tắc hiện nay bằng những xảo thuật chính trị mới. Trước hết, họ đang tăng cường các biện pháp củng cố nội bộ, một mặt xiết chặt kỷ luật đảng, một mặt triệt tiêu hoặc vô hiệu hóa mọi mầm mống chống đối ngay trong nội bộ đảng. Sau nữa, t́m mọi cách ve văn dân chúng, tỏ ra cởi mở hơn, nới lỏng những chỗ nào cần thiết mà có thể nới lỏng (đối với sinh viên, chẳng hạn) và cho phép một số tiếng nói cá nhân, đoàn thể hay báo chí được phê b́nh tự do và thẳng thắn. Đối với các nhóm không cộng sản và các tôn giáo th́ vừa canh chừng vừa t́m cách vô hiệu hóa bằng mọi cách cần thiết và thích hợp (hù dọa, kích thích cho hoạt động để lộ diện rồi phá vỡ, cho phép các “giáo gian’ hoạt động). Đây là bên trong nước. C̣n đối ngoại, họ đang tích cực và chủ động mở những con đường mới về phía tư bản, đặc biệt là t́m cách nhích lại gần Mỹ và Trung Quốc. Chúng ta ghi nhận việc Phó Thủ Tướng Thái Lan tuyên bố tại Nhật rằng Nhật nên trở lại giúp Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Đồng thời Việt Nam đă yêu cầu Thái Lan đứng ra tổ chức hội nghị giữa Việt Nam và Trung quốc để t́m giải pháp cho vấn đề Căm Bốt.

Về quan hệ Việt-Mỹ, hai sự kiện sau đây đáng được lưu ư. Đó là việc Mỹ vừa băi bỏ lệnh cấm công dân Mỹ sang thăm viếng Việt Nam, và việc phái đoàn dân biểu Mỹ gồm 7 người đang đi thăm Đông Nam Á để t́m chỗ thay thế hai căn cứ quân sự Mỹ ở Phi Luật Tân. Phái đoàn muốn ghé thăm Việt Nam và Cam Ranh. Mặc dù Việt Nam phủ nhận nguồn tin của một dân biểu trong phái đoàn về việc một viên chức Việt Nam đă ngỏ ư Việt Nam sẵn sàng mở cửa Cam Ranh cho Mỹ, chắc chắn đang có những cuộc đi đêm quan trọng giữa hai bên. Cho tới nay Việt Nam luôn hối thúc Mỹ nối lại bang giao để mở đường cho tư nhân Mỹ đầu tư vào Việt Nam nhưng Mỹ không vội vàng ǵ và liên tiếp đ̣i hỏi những điều kiện ngày một cụ thể và khó khăn hơn. Trong hai năm gần đây chính phủ Hà Nội đă phải chấp nhận một số khuyến cáo của các tổ chức tài chánh thế giới (IMF và World Bank) nên đă giảm được lạm phát. Nhưng như thế vẫn chưa đủ để bước hẳn vào giai đoạn phát triển nếu không chấp nhận những đ̣i hỏi thay đổi căn bản về chính trị. Ban lănh đạo hiện nay biết rất rơ điều đó nên đă t́m mọi cách tranh thủ phe tư bản, đặc biệt là Mỹ, Nhật, Anh và Pháp, bằng cách sẵn sàng đem bất cứ ǵ mà phe tư bản cần để trao đổi lấy sự công nhận về chính trị và sự viện trợ kinh tế – trao đổi bất cứ ǵ, kể cả sinh mệnh và danh dự của người dân cùng khổ (các thuyền nhân, các cựu tù nhân cải tạo…) chỉ trừ sự độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản tại Việt Nam. Sự thật chua xót này bộc lộ sự cùng quẫn của giới lănh đạo cộng sản hiện nay, và do đó, đang tạo cơ hội mới cho những người Việt yêu nước không cộng sản. Cơ hội đó đang nhanh chóng tiến đến và sẽ thật sự xuất hiện sau khi những người cộng sản cầm quyền hiện nay thanh toán được sự cùng quẫn và mâu thuẫn nội bộ của họ, hoặc bằng một cuộc binh biến đẫm máu, hoặc bằng một tiến tŕnh rút lui trong danh dự.

Chúng ta mong rằng những người cộng sản Việt Nam sẽ t́m được đường thoát cho họ mà không phải gây ra những chết chóc bi thảm và vô ích cho những binh sĩ và thường dân vô tội. Tuy nhiên, chỉ có một con đường để tránh được thảm họa đó vừa cho đảng Cộng sản Việt Nam vừa cho dân chúng Việt Nam. Đó là giới lănh đạo cộng sản hiện nay t́m những phương thức tốt nhất để rút lui trong danh dự ra khỏi chính trường Việt Nam. Để rút lui trong danh dự họ hăy can đảm chấp nhận tự do và dân chủ thực sự trong sinh hoạt nội bộ đảng của họ. Đó là con đường tốt nhất để chuẩn bị cho Đại Hội 7 sắp tới. Và điều này phải được thực hiện một cách chân thành và nhanh chóng càng sớm càng tốt để tránh biến loạn và cũng để phần nào cứu văn được vị thế chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam trên chính trường Việt Nam trong thập niên 1990. Nếu giới lănh đạo Cộng Sản Việt Nam hiện nay không chuẩn bị Đại Hội 7 trong tinh thần và đường hướng đó th́ hậu quả sẽ khó thể tránh được biến loạn xă hội để mở đường thoát cho dân tộc, và sự tan ră hoàn toàn của đảng CSVN trên chính trường Việt Nam tương lai.

Về phần những người yêu nước không cộng sản, chúng ta hăy chuẩn bị kỹ hành trang cho một cuộc “lên đàng” mới. Lên đàng không phải để lật đổ chế độ hiện tại mà là để thay thế.  Lên đàng không phải là để gây bạo loạn, chia rẽ và phá hoại, mà là để ḥa giải, đoàn kết và xây dựng. Lên đàng không phải để dựng lại một quá khứ mục nát, bất tài, tham nhũng và lạc hậu, mà là mở ra một tương lai tự do, dân chủ thái b́nh và thịnh vượng cho toàn thể dân tộc. Chuẩn bị cho một hành trang như thế không phải là công việc đơn giản có thể do đơn độc từng cá nhân hay từng nhóm riêng lẻ hoàn tất trong một sớm một chiều.  Mỗi chúng ta hăy đem hết tim óc ra cùng nhau làm việc ngày đêm không nghỉ ngay từ bây giờ mới hy vọng chuẩn bị kịp cho cuộc chuyển ḿnh lớn lao sắp tới của đất nước.

 

N.P.P

Cuối năm 1990

________________________________________________________

(N.P.P. là một trong nhiều bút hiệu tôi dùng trong Diễn Đàn Tự Do)