Chuyên Chính Vô Sản
Và Năm Thành Phần Kinh tế

“Sự thay đổi từ chế độ tư bản sang chế độ cộng sản là một thời kỳ lịch sử lâu dài và đau đớn, và thích ứng với thời kỳ đó, về mặt chính trị, th́ không thể có cái ǵ khác hơn là chuyên chính vô sản.”

Marx đưa ra kết luận như trên sau khi đă phân tích tỉ mỉ về tính chất bóc lột của kiểu kinh doanh sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa, tức là có thuê mướn nhân viên. Người chủ tư bản chỉ trả công ngang với một phần giá trị mà người làm công đă tạo ra trong quá tŕnh lao động; cái phần c̣n lại gọi là “giá trị thặng dư” th́ người chủ chiếm đoạt lấy cho ḿnh và lại biến nó thành tư bản để mở rộng thêm việc kinh doanh nghĩa là thuê mướn nhân viên, lại chiếm đoạt lấy giá trị thặng dư, và cứ thế tiếp tục măi….Nói tóm tắt, theo chủ nghĩa Mác có thuê mướn tức là có bóc lột. Vậy để xoá bỏ nạn người bóc lột người phải đập tan chế độ tư bản, xây dựng chế độ cộng sản (mà trong giai đoạn đầu gọi là xă hội chủ nghĩa) mà đặc trưng cơ bản của nó là tập trung mọi quyền tư hữu tư liệu sản xuất vào trong tay Nhà nước hay kém nhất cũng phải vào các hợp tác xă do Nhà nước quản lư, để cho không một kẻ tư bản nào c̣n có thể c̣n giữ được một điều kiện nhỏ nhoi nào đặng mà đi bóc lột kẻ khác qua thuê mướn. Và để thực hiện viêc tập trung ấy cho thành công trước một bọn tư bản luôn luôn ngoan cố, luôn luôn phản động, th́ phải tổ chức nền chuyên chính vô sản hết sức kiên cố với một đảng cộng sản hoàn toàn nắm giữ mọi quyền hành.

Tất cả các đảng CS cầm quyền trên thế giới đều nhân danh lư tưởng thực hiện công bằng xă hội như thế để dành cho ḿnh độc quyền thống trị tất cả mọi lănh vực sinh hoạt xă hội từ chính trị, kinh tế cho đến văn hóa tư tưởng –một chế độ toàn nhất triệt để. Điều đáng nói là ngay cả khi đă cầm quyền, đảng CS vẫn luôn luôn đ̣i phải “tăng cường sự lănh đạo của đảng” (Thông Báo của Hội Nghị Trung ương 8, Khóa 6, đảng CSVN). Nhân danh sự tăng cường đó, một mặt đảng cộng sản ra sức bóp chết bất cứ một dấu hiệu nào đi ngoài khuôn khổ, mặt khác, bản thân đảng trở thành con bạch tuộc khổng lồ hút chặt tất cả đặc quyền đặc lợi để trở thành một giai cấp mới (Milovan Djilas).

Chỉ qua hai lần nhân danh như thế (nhân danh trong lư luận và nhân danh trong thực tế khi cầm quyền) lư tưởng công bằng xă hội đă tiêu tan ra mây khói. Nhưng đó mới chỉ là một mặt của vấn đề. Chúng ta hăy xem mặt biến hóa khác của lich sử phát triển nền chuyên chính vô sản.

Sau cuộc nội chiến, và ngay sau khi áp dụng thất bại cuộc cách mạng quan hệ sản xuất để thiết lập chế độ kinh tế công hữu hóa, Lê-nin, người trước đó đă hùng hồn tuyên bố: “Học thuyết về giá trị thặng dư là ḥn đá tảng của học thuyết Mác”, lại phải “lùi bước” và cho ban hành chính sách kinh tế mới (NEP).  Tên “Kinh tế mới” là cái ǵ? Ở nông thôn, nông dân không c̣n bị tịch thu hoa mầu mà chỉ nộp thuế và giữ lại chỗ dôi ra. Ở thành thị ai có vốn được phép mở xí nghiệp, tức là được thuê mướn nhân công, tức là đuợc chiếm lấy giá tri thặng dư, tức là được bóc lột! Chính quyền Xô Viết, chính quyền đă cực lực lên án chế độ tư bản bóc lột, giờ đây lại phải cho phép bóc lột. Nhưng chính quyền ấy vẫn dành độc quyền thống trị cho ḿnh. Để làm ǵ?  Thưa để xây dựng nền chuyên chính vô sản để trấn áp bọn tư bản đế quốc bóc lột !

Nói đến bóc lôt cần phải nhắc lại luận điểm nổi tiếng và khá “phản động” của Lưu Thiếu Kỳ bên Trung quốc. Trước khi ông ta bị Mao tiêu diệt, Lưu rất có uy tín trong đảng Cộng sản Trung quốc. Ông ta đă viết một luận văn với tựa đề: “Bóc Lột Công Luận” (Luận về cái công của bóc lột) trong đó ông cho rằng nếu không có bóc lột th́ không có tích lũy vốn để tái sản xuất, và đó chính là cái “công” của bóc lột. Luận điểm này thật chẳng Mác-xít chút nào nếu không muốn nói là phản mác-xít. Và đó chính là lư do để ông ta bị Mao trừ khử. Nhưng luận điểm này không phải là hoàn toàn vô lư. Bằng chứng là Lê-nin đă phải trở lại với bóc lột, và ngày nay, từ Khrushchev tới Gorbachev, ngay cả Đặng Tiểu B́nh, đệ tử ruột của Lưu, đă và đang phải vận dụng cái tác dụng tích cực của hầu hết những biện pháp quản lư kinh tế tư bản, trong đó có tích lũy tư nhân, cái giá trị thặng dư mà Mác cho là nguồn gốc của bóc lột.

Hơn 70 năm qua nền văn minh của loài người đă tiến những bước tiến không ai ngờ tới. Cùng với khoa học kỹ thuật, ư thức về tự do dân chủ cũng đă tiến bộ mạnh mẽ, tạo thành một động lực tiến hóa hùng hậu mâu thuẫn gay gắt với những chế độ độc tài đàn áp trí óc và thân thể con người dưới mọi h́nh thức và nhân danh bất cứ chiêu bài lư tưởng nào. V́ mâu thuẫn đó, cộng thêm với hậu quả tất nhiên của mâu thuẫn đó là sự tŕ trệ trong toàn bộ sinh hoạt xă hội, đặc biệt là trong hoạt động kinh tề, mà phần đất Đông Âu ầm ầm chuyển động, chỉ trong ṿng mấy tháng đă đi tới kết quả hợp ḷng ngướ: độc tài đảng trị bị băi bỏ, người dân có quyền tự do nói lên được ư kiến của ḿnh, và cùng nhau quyết định vận mệnh xă hội bằng lá phiếu b́nh đẳng. Tất nhiên c̣n nhiều yếu tố khác tác động cũng mạnh mẽ không kém lên những chuyển động đó, trong đó phải kể sự ḥa hoăn Nga-Mỹ, và sự thay đổi sách lược ngoại giao quốc tế của Nga. Nhưng chính cái mâu thuẫn căn bản nằm trong lư luận cũng như cơ chế chính trị xă hội của các nước cộng sản là nguyên nhân chính và sâu sắc nhất đă nung nấu từ lâu, từ ngay sau khi cộng sản cướp được chính quyền, và chỉ chờ cơ hội thuận lợi là bùng phát lên và đạt những thành tựu tưởng như hết sức bất ngờ. Sự thành tựu nhanh chóng ở Đông Âu đă ảnh hường ngược lại Liên Xô và tại đây, dù muộn màng hơn, cuối cùng đă xóa bỏ điều 6 trong Hiến Pháp và từ bỏ độc quyền chính trị.

Hậu quả tất yếu là sự ra đời của nhiều nhóm và đảng phái chính trị mới (Mặt Trận B́nh Dân, Liên Hiệp Dân Chủ, đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, Liên Đoàn Công Nhân Mác Xít…). Trong tất cả các nước này, kể cả Liên Xô, một nền kinh tế thị trường tự do đang ra đời thay thế cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và công hữu hóa. Và như là một qui luật tất yếu, một nền chính trị phi chuyên chính vô sản, đa nguyên hóa cũng đang ra đời.

Trên thế giới c̣n lại một số nước cộng sản vẫn chưa chịu thay đổi: Trung Hoa, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn…Học thuyết Mác-Lê vẫn tiếp tục được dựng dậy như một kinh thánh biện minh cho chế độ độc đảng: “Chỉ người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên chính vô sản th́ mới là người MácXít” (Lê-nin: Nhà Nước và Cách Mạng). “Đó là điều khác nhau sâu sắc nhất giữa người Mác-xít và người tiểu tư sản (và tư sản lớn) tầm thường” (Xă Hội và Cách Mạng). Thật là một điều trớ trêu và tức cười (một cách đầy sỉ nhục và đau đớn) là các nước cộng sản Á Châu, vốn thoát thai chưa bao lâu từ thực dân phong kiến, nay lại trở lại “bảo hoàng hơn vua”. Trong khi ngay tại trung tâm cộng sản thế giới, căn bản lư luận cho nền chuyên chính vô sản và nền kinh tế cộng sản (tức giai cấp đấu tranh) đă không c̣n đứng vững nữa, và trong khi toàn thế giới đang chuyển biến theo một sử quan và một thế giới quan mới, th́ các nước cộng sản chậm tiến c̣n phong kiến Á Châu lại lớn tiếng phê phán các nước đàn anh trước đây của ḿnh là sai lầm nghiêm trọng, bỏ rơi mất lập trường cộng sản Mác-xít Lê-nin-nit chính thống, và bị bọn đế quốc phản động thao túng v.v…và v.v….Nhưng trong khi cố “bảo hoàng hơn vua” để bảo vệ quyền thống trị của ḿnh th́ các đảng cộng sản này, đứng trước nguy cơ sụp đổ ngay về kinh tế, đă phải chấp nhận áp dụng các biện pháp kinh tế không hoàn toàn công hữu nữa. Và do đó mà nẩy sinh mối mâu thuẫn không phương cứu chữa giữa chuyên chính vô sản và kinh tế nhiều thành phần.

Tại Việt Nam, khi mà đảng cộng sản đă phải chính thức công nhận nền kinh tế 5 thành phần (trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân) th́ họ c̣n có cơ sở lư luận nào để tự tiếp tục cho phép độc quyền chính trị (và nhiều thứ độc quyền văn hóa xă hội khác nữa) ? Dân chúng nghĩ sao (và nhất là các đảng viên cộng sản nghĩ sao) khi mà giới cầm quyềm công nhiên thừa nhận, và nhiều khi tán dương, một giai cấp mà theo đúng học thuyết Mác-Lê (“Học thuyết duy nhất chi phối sự phát triển của xă hội Việt Nam” (Hiến Pháp 1982)) th́ đúng là một bọn hút máu mủ của nhân dân? Tệ hơn nữa, Hiến Pháp, luật pháp căn bản của một quốc gia, cơ sở pháp lư cho cả chế độ, chưa được sửa đổi để cho phép có một nền kinh tế đa nguyên, 5 thành phần, trong khi nền kinh tế đó đă được thực tế hoạt động. Cả trên cơ sở lư luận lẫn trên cơ sở pháp lư đều không c̣n được thực tế chứng minh nữa, thế mà chế độ vẫn ngang nhiên tồn tại, tồn tại trong sự chà đạp công lư, ḷng người và cả những đồng chí lâu năm, uy tín, ở những cương vị lănh đạo, của chính họ !

Mâu thuẫn không thể chối bỏ được giữa học thuyết chính trị hợp pháp và thực tiễn xă hội kinh tế, chính là nguồn gốc căn bản của mọi khó khăn trong công cuộc canh tân phát triển đất nước.  Một mặt nhu cầu phát triển đ̣i hỏi phải có một chế độ kinh tế xă hội thật sự tự do, lẽ cố nhiên phải được điều tiết bằng pháp luật văn minh, mặt khác vấp phải một hệ thống cơ cấu và nhân sự cai trị vốn được đào tạo trong khuôn khổ của ư thức hê chuyên chính vô sản Mác-Lê nên không sao thích ứng nổi với thế giới mới --từ tâm lư, nhận thức đến động thái, khả năng và cả lối tính toán quyền lợi riêng và chung…

Mối mâu thuẫn giữa căn bản lư luận và các biện pháp “cứu nguy” kinh tế thực tiễn đó chính là nguyên nhân sâu xa của t́nh trạng bế tắc và khủng hoảng hiện nay của các chế độ cộng sản bảo thủ như Việt Nam. Cụ thể, đó là mối mâu thuẫn giữa chế độ chính trị và văn hóa nhất nguyên, độc quyền, độc đảng với nền kinh tế đa nguyên, 5 thành phần. Theo đúng lư luận kinh tế Mác-xít th́ kinh tế là hạ tầng cơ sở mà chính trị và văn hóa là thượng tầng kiến trúc. Chính v́ lư luận như thế mà Mác đă dạy rằng về kinh tế phải làm cuộc cách mạng quan hệ sản xuất để triệt tiêu việc chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất, thiết lập chế độ kinh tế công hữu, mà trong bước đầu quá độ, c̣n hai thành phần kinh tế theo h́nh thức sở hữu xă hội là quốc doanh và tập thể, để sau sẽ tiến lên chỉ c̣n một h́nh thức sở hữu hoàn toàn xă hội là tập thể trong thời kỳ cộng sản. Song song với kinh tế, về chính trị, phải thiết lập chế độ chuyên chính vô sản, do đảng cộng sản độc quyền lănh đạo, trong thời kỳ quá độ xă hội chủ nghĩa, để sẽ tiến đến vô đảng (giải thể đảng cộng sản) và vô chính phủ (chính quyền tự tiêu vong) trong thời kỳ cộng sản. Đóù làø lư luận, nghe khá hợp lư và hấp dẫn. 

Trong thực tề, Lê-nin đă phải lùi bước với chính sách kinh tế mới, Khrushchev cũng phải lùi bước nữa với chính sách xét lại và tới nay Gorbachev đang “cải tổ” lại cả trên kinh tế lẫn trên chính trị, cả ở quốc nội lẫn ở quốc ngoại. Với ông Gorbachev th́ thật không c̣n là “cải tổ” nữa mà là từ bỏ cả lư luận lẫn các biện pháp thực tế của cả ông Mác lẫn ông Lê. Trên chính trị đă chấp nhận đa nguyên đa đảng; trên kinh tế chấp nhận kinh tế thị trường. Và qui luật của ông Mác được dùng để đập lại chính các đệ tử trung thành nhất của ông: kinh tế quyết định chính trị và văn hóa tư tưởng. Lê-nin đă thất bại v́ chỉ thay đổi trên kinh tế, Khrushchev cũng thế. Nay ông Gorbachev đang chấp nhận thay đổi cả hai, và tất nhiên ông ta cũng phải chấp nhận mọi hậu quả tốt cũng như xấu cho đảng cộng sản và phong trào cách mạng thế giới, v́ đó là qui luật cho chính những người Mác-xít. Nhưng có thể xấu cho cộng sản chứ không xấu cho tương lai nước Nga.  Mà đúng hơn th́ đó cũng là qui luật đương nhiên của đời sống xă hội. Chính trị, kinh tế và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ và tương tác không thể tách rời nhau cũng như không thể mâu thuẫn nhau.

Chấp nhận thay đổi trên kinh tế, v́ nếu không kinh tế không phát triển được. Không chịu thay đổi trên chính trị v́ vẫn muốn duy tŕ độc quyền thống trị. Đó là “lô gích” của các nhà lănh đạo Hà Nội hiện nay. Nhưng như thế vừa đi ngược qui luật lịch sử và xă hội, vừa không giải quyết tận căn bản và được bền vững những vấn đề kinh tề. Tức là chỉ hăm lại được đà phát triển của khủng hoảng chứ không thể thực sự khai thông được bế tắc.  Vấn đề hiện nay của chế độ cộng sản tại Việt Nam cũng như toàn thế giới không phải là “cải tổ” hay “đổi mới” mà là từ bỏ toàn bộ lư luận cũng như phương pháp chính trị, kinh tế, văn hóa của Mác-Lê, là dân chủ hóa và tự do hóa toàn bộ và đồng loạt mọi sinh hoạt xă hội, từ chính trị tới kinh tế và văn hóa xă hội. Tự do hóa và dân chủ hóa toàn bộ và thực sự không có nghĩa là vô chính phủ, hỗn loạn. Dân chủ và tự do thực sự phải đi liền với, và chỉ có thể tồn tại được, bằng một nền pháp chế công minh, dân chủ và hữu hiệu. Nhưng dân chủ hóa, tự do hóa và pháp chế hóa th́ ngược với chuyên chính vô sản, và chuyên chính vô sản th́ lại không phù hợp với nền kinh tế đa nguyên nhiều thành phần. Mà bỏ vô sản th́ không c̣n được độc quyền cai trị nữa, và tệ hơn nữa, không c̣n là cộng sản, v́ như Mác đă dạy, trong thời kỳ chuyển tiếp lên cộng sản, “không thể có ǵ khác hơn là chuyên chính vô sản”.

Làm sao giải thông được “khổ nạn” này? Hy vọng vừa phát triển được kinh tế nhờ đa nguyên hóa lại vừa giữ được nền chuyên chính vô sản độc quyền chỉ là không tưởng v́ ngược lại với chính lư luận Mác-xít. Chấp nhận đa nguyên hóa cả trên chính trị lẫn trên kinh tế th́ phù hợp với biện chứng nhưng lại dẫn đến những hậu quả không mấy tốt đẹp ǵ cho đảng cộng sản như đang diễn ra ở các nước Đông Âu và ở chính Liên Xô. Chọn con đường nào? V́ sự tồn tại của đảng cộng sản hay v́ sự phát triển của đất nước?

Với tâm thức chính trị của giới lănh đạo già nua bảo thủ hiện nay ở Hà Nội th́ chắc chắn Cộng sản Việt Nam chỉ có một con đường là duy tŕ bằng được độc quyền chính trị trong khi cố gắng đạt được những bước tiến từ từ với nền kinh tế 5 thành phần.  Trong đó, người dân, bất kể độc quyền chính trị cộng sản, sẽ thừa cơ hội tiến lên mạnh mẽ về kinh tế, vận dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, và vận dụng cả những kẽ hở và bế tắc của kinh tế quốc doanh để phát triển ngày một lấn lướt kinh tế quốc doanh. Kinh tế đa nguyên hóa được chánh quyền cộng sản sử dụng như một biện pháp cứu nguy chế độ cộng sản (phải chăng v́ thế chịu sửa Hiến Pháp để chấp nhận kinh tế tư nhân?) nhưng đă và đang được quần chúng sử dụng như một biện pháp để phi quốc doanh hóa đời sống vật chất của xă hội để cứu nguy ngay cuộc sống hàng ngày của họ. 

Cuộc đấu tranh gay gắt nhưng âm thầm, phi chánh trị này đang diễn ra hàng ngày ở khắp mọi nơi trong nước. Phi chánh trị nên chánh quyền cộng sản khó thể cấm đoán được và v́ nó giúp cứu gỡ (dù tạm thời) đời sống vật chất của người dân nên chánh quyền cộng sản lại càng không dám ngăn chặn. Hậu quả đang dẫn đến là nguy cơ băng hoại của hệ thống quốc doanh, mà hệ thống kinh tế quốc doanh là cơ sở cuối cùng c̣n sót lại của nền chính trị chuyên chính vô sản. Hậu quả ấy tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ sụp đổ của thượng tầng kiến trúc là đảng cộng sản và chính quyền cộng sản. Cuối cùng, những nhà lănh đạo Cộng sản Việt Nam đang là nạn nhân của chính những biện pháp kinh tế đa nguyên “cứu nguy” của chính họ. Và kẻ thù đầu tiên hiện nay của họ lại chính là những đồng chí thân thiết trước đây của họ, những người tuân theo đúng qui luật, kinh tế hạ tầng quyết định chính trị thượng tầng, và do đó đang đ̣i đa nguyên hóa chính trị và văn hóa cho phù hợp với đa nguyên hóa kinh tế.

Đó là thực chất những ǵ đă, đang và sẽ xẩy ra tại Việt Nam trong thời kỳ chuyển tiếp hiện nay từ chế độ cộng sản sang chế độ phi cộng sản sắp tới. Thời kỳ này có ba đặc điểm:

1. Đây là thời kỳ đấu tranh ḥa b́nh bất bạo động giữa kinh tế và văn hóa đa nguyên của quần chúng với chính trị độc đảng nhất nguyên của đảng và chính quyền cộng sản, trong đó quần chúng ở thế tiến công mà đảng và chính quyền cộng sản ở thế pḥng ngự.

2. Cuộc đấu tranh phi chính trị với chính trị ấy xạ chiếu vào nội bộ đảng cộng sản gây ra một cuộc tương tranh chính trị giữa bảo thủ và cấp tiến, trong đó cấp tiến ở thế tiến công và bảo thủ ở thế pḥng ngự.

3. Kết quả cuối cùng của thời kỳ này là sự lớn dậy dần của các lực lượng chính trị tiến bộ phi cộng sản để mở ra thời kỳ hậu cộng sản. Các lực lượng này lớn dậy nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng vận dụng thời cơ và tập hợp lực lượng của chính những người yêu nước tiến bộ không cộng sản. Thời cơ đang mở ra hết sức tốt đẹp cho họ.

Cuộc tương tranh thầm lặng nhưng quyết liệt giữa quần chúng phi chính trị và chế độ chính trị chuyên chính cộng sản và cuộc tương tranh chính trị trong nội bộ đảng cộng sản hiện đang chuyển vào giai đoạn quyết định sau cùng. Hai cuộc tương tranh đó đang mở ra cơ hội và tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cho sự xuất hiện các lực lượng chính trị tiến bộ không cộng sản.  Đây không những là cơ hội mà c̣n là trách nhiệm của những người yêu nước. Vấn đề c̣n lại là họ có đủ sức đảm đương được trách nhiệm và vận dụng được cơ may hết sức tốt đẹp đó để mở ra cho dân tộc một thời kỳ hưng thịnh mới hay không?

 

Tuệ Quang

5/90

 

______________________________________________________________

(Bài này tác giả viết với sự góp ư của ĐPT, được đăng lại trong cuốn sách Đoàn Viết Hoạt Và Nhóm Diễn Đàn Tự Do, tr.87-94)