Diễn văn của Ts Lê Mộng Nguyên tại Montrouge trong chiều Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris đón tiếp Gs Đoàn Viết Hoạt (13 th.11-2005)

 

 

 

Kính thưa Giáo sư,

 

Kính thưa quí vị,

 

Được biết trong buổi hàn huyên hôm nay (ngày chủ nhật 13 th.11-2005 tại tư thất Bs Nguyễn Bá Hậu và phu nhân) dưới chủ đề Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấpTố Như? có sự hiện diện của Gs Đoàn Viết Hoạt từ Hoa Kỳ sang Pháp gặp gỡ đồng bào Paris, và t́nh cờ xem lại sách Le Vietnam au présent do Đường mới xb năm 1992, tụ tập những bài thuyết tŕnh của chúng tôi (Bùi Xuân Quang-Nanterre, Lê Hữu Khóa, Tôn Thất Long, Vơ Văn Ái, Đinh Trọng Hiếu, Lâm Thanh Liêm, Jean Maĩs... và Lê Mộng Nguyên), trong chiều Hội Đàm tại Thượng Nghị Viện Pháp (Paris) đúng ngày 18 th.04-1992 là ngày Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Vơ Chí Công kư sắc lệnh ban hành Hiến Pháp vừa được Quốc Hội thông qua ngày 15 th.04-1992, và lúc mở trang 278 (phần Phụ bản) với danh sách 275 tù nhân chính trị (thiết lập ngày 01/07/1992): tôi nhận thấy tên tuổi của nhiều nhân vật đối lập lẫy lừng: Nguyễn Đan Quế, giam tại Phan Đăng Lưu, h́nh phạt 20 năm; Thadeus Nguyễn Văn Lư, giam tại Z30aXuân Lộc, Trại Cải tạo: không tên; Nguyễn Lư Tưởng: giam ở đâu: không biết, h́nh phạt mấy năm cũng không biết; ... Đoàn Viết Hoạt, giam tại Hàm Tân, h́nh phạt mấy năm: không biết... Tôi muốn nói ra tất cả ḷng cảm phục và niềm hănh diện được làm quen hôm nay với một nhà trí thức chống cộng như Giáo sư Đoàn Viết Hoạt. Trong cuộc thảo luận hôm 18 th.04-1992 tại Sénat, sau bài thuyết tŕnh về Hiến Pháp mới, tôi có nói để trả lời một câu hỏi: Tout à l’heure, mon confrère Maître Trần Thanh Hiệp a considéré la Constitution de 1992 comme étant une fausse sortie du totalitarisme... Je dirais même plus: Hanoi aimait jeter de la poudre aux yeux et confondait ‘’être’’ avec ‘’paraître’’, car tant qu’on aura pas séparé complètement et définitivement le Parti communiste de l’État et de la Société, le Vietnam demeurera sous la dictature d’une idéologie que le peuple a toujours combattue et dont l’effondrement dans les pays de l’Europe centrale et orientale en 1989 est une preuve de sa nocivité...

 

Thưa Giáo sư, hội họp hôm nay tại tư thất Bs Nguyễn Bá Hậu, chúng tôi (trước hết) muốn nói lên t́nh thân ái đối với một người đă hy sinh nhiều năm tươi trẻ cho chính nghĩa, và sau hết là nhấn mạnh vào sự đồng chí hướng của chúng ta trong quyết tâm tranh đấu cho dân chủ thực sự và tự do được sớm hồi phục trên đất nước xa xăm.

 

Đồng bào Việt Nam ngày nay chắc ai cũng c̣n nhớ câu nói bất hủ của học giả Phạm Quỳnh: Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n. Tiếng ta c̣n, nước ta c̣n. Nhà văn hào và chính khách của chúng ta muốn làm bật nổi vai tṛ quan trọng của ‘’Đoạn Trường Tân Thanh’’ (3254 câu thơ lục bát) trong diễn tiến văn hóa của dân tộc nước ḿnh. Cũng v́ vậy mà lúc tôi c̣n nhỏ, Ba tôi một nhà Nho giáo, thường nói : Muốn giỏi Việt văn, con phải đọc Truyện Kiều trước hết. Tôi nghe lời, say đắm đọc nhiều lần cho đến học thuộc ḷng kiệt tác của Nguyễn Du. Sau Trường Làng và Trường tiểu học Paul Bert, tôi được vào trường cao đẳng tiểu học Chaigneau ở Huế, bài thi Việt văn dưới đầu đề: Cái ghen của Hoạn Thư của tôi (có làm so sánh Hoạn Thư với Phèdre của Racine được chiếm 20 điểm... Lúc thầy Việt văn là anh Huế loan báo, tôi đỏ mặt, cảm xúc. Sau đó, tôi muốn xin lại bài ấy để làm kỷ niệm th́ văn pḥng hành chánh của trường cho biết là bị mất. T́m ra được người trách nhiệm mà cũng là một học sinh, anh cười khà: moa muốn giữ lại cho hậu thế, và không chịu trả cho tôi ! Trong thời Trung học Khải Định, tôi được trúng tuyển Giải Thưởng Hoàng Đế Bảo Đại trong dịp concours général’ cũng với một đề tài về Kim Vân Kiều... Đời tôi với Thúy Kiều và Tố Như tiên sinh từ dạo ấy thật là tri âm tri kỷ trong tâm hồn và lư tưởng. Giáo sư Việt văn (trịnh trọng loan báo Giải Thưởng này cho học sinh lớp Đệ Nhị Chuyên Khoa Sinh Ngữ 1948-1949), ngoài việc giảng dạy văn chương và khuyến khích học sinh sáng tác văn thơ, c̣n là một nhà soạn kịch được lớp mệnh danh là Đại Lăo Kịch Trường. Thầy Lê Hữu Khải không ngần nại nhận làm Cố vấn Đạo diễn cho nhạc kịch Quán Biên Thùy của Thao Thao, tŕnh bày trong Đêm Văn Nghệ Học Sinh Khải Định-niên học 1948-1949. Báo Ḍng Việt 2004 (của Liên Chi và Lê Văn, Huntington Beach tại California-Hoa Kỳ, tường thuật lại như sau (trang 93):

 

Với một quyết tâm liều chết, Kinh Kha đứng quay mặt về sông Dịch Thủy và hát lên những lời bi tráng trước phút ra đi, làm cho cả triều đ́nh của Thái Tử Đan cúi đầu rơi lệ, lạy người tráng sĩ đă ngang nhiên t́m cái chết để phục hận cho non sông:

 

Phong tiêu tiêu Hồ Dịch Thủy hàn

 

Tráng sĩ nhất khứ hề bất phụ hoài...

 

Gió vi vu hề trên sông Dịch lạnh

Tráng sĩ ra đi hề đâu thiết ngày về...

 

Tiếng hát Kinh Kha (anh Lê Mộng Nguyên diễn xuất) không những làm rơi lệ cả Triều đ́nh Thái Tử Đan, mà cả hội trường cũng đều xúc động, khi Kinh Kha lên đường hành thích Tần Vương với quyết tâm chẳng hẹn ngày về.Tiếng hoan hô rợp cả hội trường, rồi bỗng nhiên im lặng như tờ, chứng tỏ tâm hồn của khán thính giả đang đau xót ngậm ngùi tiễn đưa một chàng tráng sĩ lên đường làm nhiệm vụ của non sông giao phó.

 

Kinh Kha hay Thúy Kiều đă làm gương mẫu cho chúng ta là những kẻ trí thức lưu vong, mất nước mất nhà ? Theo Trần Trọng Kim: Nguyễn Du... ‘’Tiên sinh là một người trung thần mà gặp buổi Lê suy, cũng như Kiều là một người trinh nữ gặp cơn gia biến. Dù tiên sinh muốn trung với Lê hoàng, song nhà đổ một cây gỗ chống sao cho nổi, khác ǵ Kiều muốn thủ nghĩa với Kim Trọng, song chuộc cha thế phải bán ḿnh’’ (Tựa Truyện Thúy Kiều, tr. XV). Trong lúc Kinh Kha là một chứng minh huy hoàng của cái tinh thần nước Việt (la vietnamité) mà tôi đă nhấn mạnh trong buổi tâm t́nh với đồng bào quốc nội và hải ngoại trên Đài Việt Nam Tự Do-Radio Free Vietnam, ngày thứ tư 02/03/2005, như sau: Một phương pháp tư tưởng, một cách viết, nói và hành động theo truyền thống tổ tiên, đă làm cho nước ta hùng tráng với quyết chí vững bền bất khuất phục trước một quyền lực độc tài trải qua những khúc quanh co của một lịch sử đầy thống khổ. Cái tinh thần nước Việt này là di sản của ông cha trong sự bất dịch của toàn dân... Paul Mus đă viết trong sách ‘’Vietnam, Sociologie d’une guerre (Việt Nam, xă hội học của một chiến tranh, 1952) : ‘’Mỗi khi nói đến Việt Nam, cái câu để giải nghĩa những vấn đề lịch sử, nằm đúng trong cái tinh thần kháng cự, liên kết một cách nghịch thường với những năng lực lạ lùng đồng hóa, một ư chí quốc dân không sờn trong thử thách của thất bại, những cắt xẻ đất đai và những chinh phục lẫy lừng.’’

 

Hơn một thiên niên kỷ, nước Việt Nam bị sáp nhập nước Tàu vô điều kiện, không những đă không suy nhược, trái lại đă làm cho nước Việt thêm vững bền. Chính cái tinh thần kháng cự này, đă và tiếp tục bảo tồn ngọn lửa ái quốc, trong cuộc chiến đấu không ngừng và không bao giờ mỏi mệt của đồng bào quốc nội cùng hải ngoại cương quyết lật đổ một quyền lực khinh miệt nhân quyền và dân quyền, một chính phủ đă bội phản dân tộc VN qua hai Điều ước kư ngày 30 tháng 12 năm 1999 và 25 tháng 12 năm 2000, hiến dâng cho Trung Cộng (kế thừa của bạo quyền Tần Vương) một phần lớn lănh thổ và lănh hải Việt Nam.

 

Xin cảm ơn Giáo sư, xin cảm ơn quí vị.

 

Lê Mộng Nguyên

Montrouge, ngày 13 th.11-2005