Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


RFA phỏng vấn GS Đoàn Viết Hoạt:

Nền kinh tế VN không phải là nền KT thị trường

RFA 2006/05/13 06:30

Giới Thiệu:

Vòng đàm phán giữa Washington và Hà Nội về việc Việt Nam gia nhập WTO đến ngày 12 tháng 5 vẫn chưa kết thúc như dự liệu. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển vì vậy đã phải lưu lại Washington DC để tiếp tục cuộc thảo luận. Vòng đàm phán còn bế tắc là do một số vấn đề vẫn chưa đồng thuận.

Biên tập viên Nhã Trân của đài RFA đã hỏi ý kiến của giáo sư Đoàn Viết Hoạt về các vấn đề liên quan. Giáo sư Đoàn Viết Hoạt là một nhà đấu tranh dân chủ được biết nhiều tại hải ngoại. Ông từng bị giam giữ nhiều năm trước khi đi định cư tại Hoa Kỳ hồi năm 1998, từ đó đến nay ông tiếp tục quan tâm đến các diễn biến liên quan đến Việt Nam. Sau đây là cuộc trao đổi giữa Nhã Trân và giáo sư Đoàn Viết Hoạt:

 

Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.

Nhã Trân: Thưa giáo sư, Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam vẫn chưa có một nền kinh tế thị trường, giáo sư nghĩ gì về nhận định này?

GS Đoàn Viết Hoạt: Tôi nghĩ rằng nhận định đó là chính xác. Tôi cũng đồng ý là nền kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn chưa phải là nền kinh tế thị trường. Nó có nhiều lý do và chắc chắn chuyên viên của Bộ thương mại của Hoa Kỳ cũng như của các tổ chức quốc tế thì dễ dàng nhận ra được. Nhưng ngay người dân thôi thì chúng ta bình thường không phải những nhà kinh tế cũng đã nhìn thấy rõ. Khi cho rằng nền kinh tế Việt Nam phải là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN chẳng hạn thì nó đã làm cho tính chất kinh tế thị trường không còn nữa. Thứ hai nữa, cụ thể là những sự hỗ trợ cho kinh tế quốc doanh và vẫn coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo trong nền kinh tế thì điều đó nó vi phạm vào nền kinh tế thị trường v.v.. Và có rất nhiều điều khác nữa, đặc biệt là trong luật pháp chưa bảo đảm được sự tự do cho nền kinh tế tư nhân, đặc biệt là kinh tế tư nhân vẫn chưa được ngang bằng hay cạnh tranh một cách công bằng với nền kinh tế quốc doanh.

Tôi nghĩ có nhiều yếu tố khiến cho chính phủ Hoa Kỳ cũng như thế giới thấy rõ là nền kinh tế của Việt Nam chưa phải là nền kinh tế thị trường.

Nhã Trân: Như vậy theo giáo sư, nếu muốn trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường thì Việt Nam cần phải bỏ chính sách kinh tế XHCN phải không ạ?

GS Đoàn Viết Hoạt: Thứ nhất là điều này chính những người cộng sản tiến bộ ở trong nước, hay những người đã nhìn ra được xu thế phát triển kinh tế thị trường đều đã nói đến rất nhiều ở trong nước rồi. Ngay cả trên những báo chí và cơ quan thông tin do sự kiểm soát của nhà nước thì cũng đã có rất nhiều đề nghị, đặc biệt trong những tháng trước đại hội 10, rằng nên bỏ cái đuôi theo “định hướng XHCN” đi vì nó chẳng có ý nghĩa gì hết.

Trong thực tế là Việt Nam bây giờ bắt buộc phải phát triển nền kinh tế thị trường thật sự. Một nền kinh tế thị trường thật sự nó có những qui luật phát triển khách quan theo cung cầu. Khách quan theo nghĩa là sự tự do cạnh tranh để có được những sản phẩm tốt nhất, và người tiêu thụ, tức là người dân, là người quyết định mua sản phẩm của công ty nào và sản phẩm xuất bản ở đâu.

Trong khi đó Việt Nam đang phải hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như kinh tế thế giới. Khi hội nhập vào thì có nghĩa là phải mở cửa thị trường tự do cho hàng hóa lưu thông, kể cả hàng hóa ở mọi nước cũng như hàng hóa nội địa của mình. Thì lúc đó sự cạnh tranh nó phải công bằng và tự do. Nếu không có áp dụng nền kinh tế thị trường thật sự thì hàng nội địa của chúng ta sẽ thua hàng ngoại nhập. Điều đó sẽ gây tác hại rất lớn. Tác hại chính là người tiêu thụ, tức là người dân sẽ không được quyền tự do chọn lựa những sản phẩm tốt.

Nhã Trân: Vấn đề trao đổi văn hóa phẩm giữa hai quốc gia vẫn đang tiếp tục thảo luận vì hai bên chưa đạt được sự đồng thuận. Giáo sư có thể cho ý kiến về vấn đề này?

GS Đoàn Viết Hoạt: Ngay từ khi thương ước Mỹ - Việt bắt đầu thì chúng tôi cũng đã có ý kiến ngay với những nhà lãnh đạo của chính phủ Mỹ trong khi thương thuyết với chính phủ Việt Nam về thỏa ước thương mại này. Chúng tôi thấy rằng lúc đó Mỹ đã nhân nhượng cho Hà Nội quá nhiều, đặc biệt là liên hệ tới lãnh vực văn hóa, thông tin. Cho nên chúng tôi đã đề nghị ngay lúc đó, và chúng tôi luôn luôn đòi hỏi là cần phải có một nền kinh tế thương mại thật sự tự do hai chiều. Nếu Việt Nam có thể được đưa những sản phẩm văn hóa sang Mỹ, trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt thì những sản phẩm văn hóa của người Mỹ, trong đó có của người Mỹ gốc Việt cũng phải được tự do lưu hành ở trong nước. Điều này chúng tôi đã đòi hỏi rất nhiều năm nay và sau đó thì rất nhiều anh em ở trong cộng đồng ở Mỹ cũng như ở các nước cũng đòi hỏi như vậy. Tôi nghĩ rằng lúc này là lúc mà chính phủ Mỹ đã nhìn thấy rõ rằng phải cần phải đòi hỏi một sự tự do lưu hành những sản phẩm văn hóa như âm nhạc, nghệ thuật, sách báo của người Mỹ nói chung và của người Mỹ gốc Việt, là một bộ phận của xã hội Mỹ cũng phải được tự do nhập cảng vào trong nước. Tôi nghĩ đây là một đòi hỏi chính đáng, và có như vậy thì nó mới thật sự là thương mại tự do. Đó là một trong những điều kiện để gia nhập WTO.

Nhã Trân: Như thế có phải giáo sư cho rằng đã đến lúc Việt Nam nên cởi trói để cho các văn hóa phẩm nước ngoài được hoàn toàn tự do nhập khẩu là lưu hành tại Việt Nam?

GS Đoàn Viết Hoạt: Thật sự ra điều tự do thông tin, tự do tư tưởng, tự do báo chí là những điều căn bản của nhân quyền mà chúng tôi cũng như tất cả các nhà dân chủ ở trong nước cũng như ở hải ngoại đã đòi hỏi trong suốt 20 năm nay. Tôi nghĩ rằng nó liên hệ tới việc xuất bản sách báo nói chung ở trong nước, cũng như nhập cảng sách báo từ hải ngoại về trong nước hay từ trong nước ra hải ngoại.

Nếu chúng ta đã chấp nhận được những thị trường chấp nhận sự tự do thương mại, và đó là xu thế của thế giới mà Việt Nam bây giờ đang cố gắng để hội nhập vào thì chúng ta bắt buộc phải chấp nhận sự tự do đó. Và sự tự do đó không phải là sự cởi trói, mà đó là quyền của người dân. Chính phủ và nhà nước Hà Nội cho đến nay vẫn chưa chấp nhận sự tự do đó. Nhưng tôi nghĩ rằng nó đi ngược lại với xu thế chung. Do đó chúng tôi đòi hỏi và chúng tôi mong mỏi rằng Việt Nam, để gia nhập được vào WTO thì phải chấp nhận sự tự do về truyền thông, sự tự do về xuất bản, phát hành sách báo, kể cả trong nước cũng như từ hải ngoại về trong nước.

Nhã Trân: Đó cũng là điều người Việt khắp nơi mong mỏi, trong cũng như ngoài nước. Và sau khi được gia nhập vào WTO, nếu điều này xảy ra, thì giáo sư có nghĩ rằng Việt Nam sẽ nghiêm túc tuân hành các điều kiện đã cam kết?

GS Đoàn Viết Hoạt: Rút kinh nghiệm của Trung Hoa khi gia nhập WTO thì tôi nghĩ rằng cả Mỹ cũng như thế giới đều đã nhìn thấy. Khi cho Trung Quốc gia nhập WTO rồi thì có rất nhiều điều khoản mà TQ vẫn chưa thật sự thi hành, ngay cả có nhiều điều khoản mà đã thi hành cũng đã tìm những cách để làm cho sự thi hành đó nó không triệt để. Những kinh nghiệm đó tôi nghĩ rằng Mỹ đã rút được và hiện nay dang áp dụng với Việt Nam. Tức là tránh cho Việt Nam cố gắng không thi hành những điều mình đã ký kết. Đồng thời trong xu thế hiện nay của WTO theo sự hiểu biết của chúng tôi thì từ năm 2006 trở đi thì WTO càng ngày càng có những cái chặt chẽ hơn về những điều kiện thành hội viên cũng như là sau khi đã thành hội viên rồi thì phải thi hành những điều khoản đã được quy định trong WTO.

Tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ khó có thể không thi hành những điều mà WTO, là hội viên của WTO bắt buộc phải thi hành. Hơn nữa, nếu nhà nước Việt Nam vẫn nghĩ rằng mình có thể sẽ không thi hành những điều đã cam kết khi đã trở thành hội viên, tôi nghĩ rằng điều đó sẽ không có lợi cho chính nhà nước Việt Nam và cho đất nước chúng ta nói chung. Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ không có gì phai e ngại về chuyện này nhiều.

Nhã Trân: Theo giáo sư, các trở ngại có được giải quyết nay mai hay không, và Việt Nam sẽ được gia nhập vào WTO năm nay hay không ạ?

GS Đoàn Viết Hoạt: Tôi nghĩ rằng đó là cố gắng của cả hai bên. Phía Hoa Kỳ cũng mong muốn rằng Việt Nam sớm gia nhập được vào WTO, và tất nhiên là bên Việt Nam, Hà Nội chắc chắn mong muốn được vào WTO trong năm nay. Đúng ra là từ năm ngoái nhưng vì rất nhiều sự chậm trễ cho nên nó đã chậm lại. Tôi tin rằng nó có thể tiến hành được.
Tuy nhiên, những mắc mứu hiện nay ở giai đoạn chót của sự thương thuyết giữa Mỹ và Việt Nam là những vấn đề rất nghiêm trọng, và nó là căn bản cho sự thay đổi nền kinh tế ở Việt Nam. Cho tới nay, với những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo cao cấp nhất ở Hà Nội thì chúng tôi thấy rằng họ vẫn còn rất quan ngại vì họ sợ rằng nếu chấp nhận những điều kiện này thì có thể họ sẽ không còn kiểm soát được những lãnh vực mà nó sẽ đụng chạm tới chế độ. Tức là về lãnh vực thông tin, văn hóa, và nhất là lãnh vực về xí nghiệp công, xí nghiệp nhà nước. Xí nghiệp nhà nước chắc chắn là phải được giải tư... thì việc gia nhập WTO sẽ khó khăn, và nếu có gia nhập thì không phát huy được sức mạnh của nó.

Nhưng tôi tin rằng Hà Nội có những nhà lãnh đạo sẽ cố gắng để thay đổi đường lối của mình và chúng ta thấy rõ là nhà nước Việt Nam không còn nhiều thời gian để làm việc này nữa.

Nhã Trân: Xin cám ơn giáo sư.

 

 


1