Nhân Quyền
Nhìn Từ Quan Ðiểm Nhân Bản và Xã Hội

International HR Day 1998 Hunger Strike in SF Gần nửa thế kỷ đã qua đi kể từ ngày bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời. Nhân loại đã đạt được nhiều tiến bộ và thế giới đã thay đổi sâu sắc. Những giá trị nhân quyền căn bản đều đã được cộng đồng quốc tế công nhận. Nhưng từ công nhận tới thực thi vẫn còn một khoảng cách khá xa dài. Hơn một nửa thế giới vẫn chìm trong bóng tối của nghèo nàn lạc hậu và đủ loại bạo quyền. Hàng tỷ người dân bình thường vẫn chưa được hưởng một cuộc sống xứng đáng với con người hạnh phúc, tự do và có nhân phẩm. Nhân loại chưa thể tự hào được với nền văn minh tiến bộ của mình trước một thực trạng như thế. Và chính vì thế  mà nhân quyền đang trở thành mối quan tâm chung của toàn thể mọi dân tộc.     

Vào thời điểm kỷ niệm quốc tế nhân quyền của năm 2005 này nhiều yếu tố tích cực đã xuất hiện, đang và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ những nỗ lực mang tính toàn cầu để hiện thực hoá những giá trị nhân quyền phổ quát.

Thứ nhất, những tiến bộ trong ngành truyền thông đại chúng và giao thông vận tải đang thu hẹp dần thế giới lại và giúp cho các dân tộc giao lưu dễ dàng. Sự di động toàn cầu (global mobility) đang trở thành một nhân tố kích thích sự phát triển trên toàn thế giới, phá vỡ mọi “ao tù” trì trệ của tất cả các xã hội  -giống như tính di động xã hội (social mobility) trước đây hàng nửa thế kỷ đã đóng góp tích cực vào việc phát triển tại các quốc gia tiên tiến ngày nay.

Thứ hai, tính di động toàn cầu đang dẫn tới một kết quả khác: đó là tính toàn cầu hóa, toàn nhân loại hóa của mọi vấn đề và mọi biến động trên thế giới. Tính liên đới toàn nhân loại đang trở thành một thực thể. Mọi tiến bộ cũng như mọi khó khăn liên quan tới mọi khía cạnh trong đời sống cá nhân và xã hội đang trở thành tiến bộ và khó khăn chung của toàn thể nhân loại, trong đó mỗi dân tộc đều có quyền được hưởng cũng như có trách nhiệm giải quyết. Ðây là một thực thể hết sức quan trọng trong việc xây dựng một Thế Giới Ðại Hòa ổn định và một nền văn minh mang tính Nhân Loại, chứ không phải của riêng Tây pương hay Ðông phương.

Thứ ba, những khám phá và tiến bộ trong mọi ngành học thuật trong cả ba lãnh vực tự nhiên, nhân văn và xã hội đang cung cấp cho loài người vừa tri thức vừa kỹ năng tinh xảo để biến những ước mơ hạnh phúc, tự do, nhân phẩm của con người thành hiện thực. Con người đang ngày càng có khả năng chủ động được cuộc sống của mình hơn, mở rộng dần “vương quốc của tự do và tự chủ”, đẩy lùi dần bóng tối của mê muội và bị động trong cả sinh hoạt cá nhân, xã hội lẫn nhân loại. Những khám phá trong lãnh vực nhân văn đang làm cho con người nhận ra được bản chất, tính đặc thù của Loài Người khác với Tự Nhiên và Loài Vật. Những tiến bộ trong lãnh vực khoa học xã hội đang cung cấp cho con người các kỹ năng và phương tiện ngày một hoàn hảo hơn để hoàn thiện và chủ động mọi mặt đời sống cá nhân và xã hội, quốc gia và quốc tế.

Thứ tư, hình thái thế giới đã có những biến đổi toàn diện và sâu sắc, đặc biệt là từ đầu thập niên 1970 tới nay. Một trật tự thế giới mới đang ra đời, một xu hướng thời đại mới đã xuất hiện. Nhân loại chuyển từ tương quan đối kháng, bóc lột-bị bóc lột, thống trị-bị thống trị, sang tương quan hợp tác, cùng sống và cùng tiến, để mở đường cho sự ra đời một thế giới thật sự ổn định và thái hòa trong thế kỷ XXI. Thế giới sẽ không còn là thế giới của riêng một siêu cường nào mà là của tất cả mọi dân tộc với sự phân công hợp tác cùng có lợi giữa những quốc gia tiên tiến và những quốc gia còn đang phát triển. Văn minh và tiến bộ sẽ không còn là văn minh và tiến bộ của riêng một quốc gia nào mà là của toàn nhân loại, không còn là văn minh Tây phương hóa mà là văn minh tổng hợp Ðông-Tây, văn minh nhân loại hóa.  Nhu cầu cải tổ Liên Hiệp Quốc và sự chuyển dịch sự chú ý và động lực phát triển quốc tế sang Châu Á-Thái Bình Dương đều là biểu hiện của hình thái thế giới mới đang ra đời.

Trong bối cảnh mới đó của thời đại, nhân loại và thế giới, vấn đề nhân quyền không thể chỉ được giải quyết riêng rẽ mà tất yếu phải nằm trong tiến trình giải quyết toàn bộ đời sống nhân loại và thế giới hiện nay để mở đường cho sự ra đời một thế giới toàn nhân loại và một nền văn minh nhân bản. Trong tiến trình này nổi bật lên ba vấn đề căn bản.

Một là, thông qua cơ sở lý luận triết học và khoa học, cụ thể hóa được nhận thức về Nhân Loại, về Con Người (viết hoa), về bản chất và tính đặc thù của loài người xuyên suốt những con người cá thể cùng những khác biệt chủng tộc, ngôn ngữ, phong hóa, địa lý, xã hội --nhận thức mà tới nay chỉ được hình thành từ thực tế giao lưu văn hóa đa dân tộc, đa chủng tộc. Phải chăng Nhân loại là một (nhất nguyên) mà dân tộc-xã hội là nhiều (đa nguyên). Nhân loại nhất nguyên ở những điểm nào? Và dân tộc-xã hội đa nguyên như thế nào? Và nếu thế thì tương quan giữa Nhân loại nhất nguyên với dân tộc-xã hội đa nguyên sẽ phải như thế nào? Trong lý luận mới về Nhân loại như thế cũng nổi bật lên mối quan hệ giữa đời sống con người, cả cá thể lẫn tập thể, với Tự Nhiên, vừa như môi trường sống còn tất yếu, vừa như phạm vi phát triển vô giới hạn của loài người. Vấn đề Con Người mang một nội dung mới với những vân đề lý luận cụ thể như thế trong bối cảnh một thế giới và một nhân loại đang trở thành nhất thể trong “ngôi làng toàn cầu” (global village).

Hai là, từ nhận thức mới về Con Người, về Nhân Loại, cộng đồng quốc tế đang phải nỗ lực giải quyết những vấn đề liên quan đến những tiêu chuẩn chung cho một đời sống quốc tế đang hình thành trên khắp mọi vùng của trái đất. Các tiêu chuẩn chung này bao gồm tất cả những chuẩn mức chung trong mọi lãnh vực đời sống quốc tế xuyên suốt mọi khác biệt xã hội và dân tộc, từ lãnh vực kinh tế thương mại, tài chánh, tới lĩnh vực tinh thần, văn hóa, học thuật và lĩnh vực chính trị, bang giao quốc tế. Nhiều hội nghị quốc tế đã được tổ chức để giải quyết những vấn đề quốc tế này.  Nhiều hiệp định và công ước quốc tế đã được các quốc gia ký kết để cố gắng tiêu chuẩn hóa các lãnh vực trong đời sống quốc tế. Một cộng đồng quốc tế đang ra đời với một mối quan tâm toàn cầu chung về mọi lãnh vực của đời sống quốc tế. Nhưng cộng đồng quốc tế đòi hỏi phải có một văn hóa quốc tế. Các công uớc quốc tế, công pháp quốc tế mới là những bước đầu xây dựng một cơ chế quốc tế. Văn hóa quốc tế đòi hỏi một tiêu chuẩn của các tiêu chuẩn. Nó đòi hỏi một cương thường cho cả loài người, cương thường nhân loại, làm chuẩn mực để xây dựng một đời sống xứng đáng với Con Người, không phải là con vật và không phải là tự nhiên (Nature). Cương thường nhân loại tạo nền tảng cho việc xây dựng một cộng đồng nhân loại, thiết chế một cơ chế quốc tế, và đặt định các tiêu chuẩn cho công ước và công pháp quốc tế. Nhân loại, trên tiến trình ổn định và kiến thiết một đời sống Thái Hòa trên hành tinh này tất yếu phải giải quyết vấn đề Cương Thường Nhân Loại này.

Ba là, thiết lập một cơ chế chính trị quốc tế để thực hiện được Cương Thuờng Nhân Loại, ổn định và xây dựng một thế giới Ðại Hòa. Các diễn biến chính trị quốc tế trong suốt mấy thập niên qua biểu lộ những cố gắng quốc tế trong chiều hướng này. Vấn đề căn bản ở đây là: quan hệ quốc tế cần phải được thiết lập thế nào để mọi dân tộc đều được chung hưởng ánh sáng văn minh tiến bộ, và đều có cơ hội đóng góp vào việc điều hành và phát triển đời sống quốc tế. Mọi yếu tố tích cực đều được cơ hội phát huy và các yếu tố tiêu cực không có điều kiện nẩy nở trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa và chính trị quốc tế. Việc thay đổi các cơ chế chính trị bạo quyền, phản dân chủ, vi phạm nhân quyền và dân quyền, việc thiết lập các tổ chức hợp tác vùng, và việc cải tổ Liên Hiệp Quốc, tăng cường vai trò quốc tế của LHQ, v.v…đều là những công việc tất yếu mà cộng đồng quốc tế đã và đang phải đặt ra và giải quyết trên con đường tiến tới thiết lập một hệ thống giá trị và một cơ chế quốc tế vừa nhân bản (phù hợp với đời sống con người) vừa dân bản (phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc).

Vấn đề nhân quyền đang trở thành mối quan tâm quốc tế và phải được nhìn nhận và giải quyết trong tầm nhìn và bối cảnh thời đại, nhân loại và thế giới mới như thế. Những hội nghị quốc tế về nhân quyền và dân chủ được tổ chức trong những năm vừa qua vừa phản ảnh vừa đáp ứng mối quan tâm quốc tế này. Những hội nghị này làm nổi bật lên ba vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau: nhân quyền, dân chủ và phát triển xã hội. Ðây là những vấn đề vừa có tính toàn cầu (nhân bản và nhân quyền) vừa có tính dân tộc (dân bản và dân quyền).

Trước hết, dân chủ vừa là biểu hiện cụ thể của nhân quyền, vừa là điều kiện bắt buộc phải có để nhân quyền được thực thi. Không có dân quyền thì không có nhân quyền; không có dân chủ thì không thể có dân quyền thực sự. Do đó tự do dân chủ là điều kiện bắt buộc để thực thi nhân quyền. Ngược lại nhân quyền hiểu như là các giá trị phát biểu mang tính toàn cầu, toàn nhân loại phải là tiêu chuẩn chung cho mọi thể chế chính trị dân chủ và bảo chứng được việc thực thi tự do dân chủ. Do đó, việc hợp tác quốc tế, kể cả việc can thiệp của quốc tế vào các chế độ độc đoán bạo quyền với mục đích đem lại dân quyền và nhân quyền cho người dân, đang trở thành một trách nhiệm quốc tế của mọi quốc gia, mọi tổ chức phi chính phủ, cũng như mọi cá nhân thực sự quan tâm tới việc xây dựng một đời sống có nhân phẩm trên toàn thế giới.

Nhưng một xã hội nghèo nàn lạc hậu khó có thể bảo đảm được dân quyền và nhân quyền. Nghèo nàn và lạc hậu tạo môi trường thuận lợi cho bạo quyền và bạo loạn tung hoành. Do đó, phát triển xã hội lại trở thành một động lực và một điều kiện cho việc thực thi dân quyền và nhân quyền. Việc giúp đỡ cho các nước nghèo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân chính lại là một động lực thúc đẩy việc thực hiện tự do dân chủ, dân quyền và nhân quyền tại các nước nghèo. Ngược lại, việc thực hiện tự do, dân chủ, việc xã hội hóa (hiểu theo nghĩa chính xác là tư nhân hóa, và có sự tham gia của toàn dân) các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục và chính trị-xã hội lại tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng tại các nuớc đó. Như thế nhân quyền và dân chủ lại có mối tương quan mật thiết với phát triển. Ðây chính là lý do khiến cho viện trợ phát triển phải được gắn liền với thực thi nhân quyền và dân quyền, với tiến trình tự do hóa xã hội và dân chủ hóa chính quyền.  Ðây chính là điều tạo ra mối lo sợ chống đối của mọi chế độ độc đoán bạo quyền.

Mối tương quan chặt chẽ giữa nhân quyền, dân chủ và phát triển không những đang trở thành nhận thức và quan tâm của cộng đồng quốc tế mà đồng thời cũng còn là động lực thúc đẩy các cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ ở các nước còn nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam. Chính ở đây mà cuộc vận động dân chủ hiện nay đang hòa nhập trào lưu nhân quyền quốc tế và đang gặp được sự ủng hộ tích cực và cụ thể của cộng đồng quốc tế. Chính ở đây mà nhân quyền được nhận thức và đòi hỏi vừa như là một lý tưởng nhân bản vừa như là một vấn đề cấp bách của riêng dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh của thế giới hiện nay, Việt Nam không thể phát triển nếu không hòa nhập được vào cộng đồng quốc tế, một cuộc hòa nhập toàn diện, từ kinh tế tới văn hóa và chính trị, mà cộng đồng quốc tế lại đang nỗ lực xây dựng một Thế Giới Nhân Loại và một Văn Minh Nhân Bản trong đó nhân quyền là một biểu lộ rõ nét nhất.

Do đó, dù nhân danh bất cứ gì, dù bất cứ ai cầm quyền ở Việt nam cũng không thể không chấp nhận tự do dân chủ và nhân quyền nếu thực sự muốn xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, tự do và công bằng trong một thế giới Ðại Hòa của thời đại 2000. Với xu thế thời đại tất yếu đó cuộc đấu tranh cho nhân quyền và cuộc vận động cho dân chủ ở Việt Nam nhất định sẽ thành công.


Ðoàn Viết Hoạt
10.2005